Hiển thị các bài đăng có nhãn tai chinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tai chinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Clip: Money as Debt (Tiền là Nợ) – Phụ đề Việt ngữ


Tiền là gì? Được tạo ra như thế nào? Bản chất thực sự của Hệ thống Ngân hàng?
GiangBLOG xin giới thiệu với các bạn 47 phút của tập phim “Money as Debt – Tiền là Nợ” của đạo diễn Paul Grignon trình bày một cách đơn giản nhưng cực kỳ rõ ràng thông qua các hình ảnh biểu tượng sinh động. Bộ phim rất thích hợp với những ai muốn tìm hiểu về tiền tệ, sự ra đời của ngân hàng và nâng cao khả năng anh ngữ của mình:)
GiangBLOG

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

Phân tích chu kỳ vốn lưu động của doanh nghiệp


PHÂN TÍCH CHU KỲ VỐN LƯU ĐỘNG

Để giúp người đọc hiểu rõ bản chất của vấn đề và đáp ứng yêu cầu công việc, GiangBLOG sẽ chia Tài chính doanh nghiệp thành 04 nhóm đối tượng chính như sau:
1. Tài chính doanh nghiệp dành cho nhà quản lý: là chủ doanh nghiệp, giám đốc tài chính, hay người phụ trách về tài chính của tổ chức.
2. Tài chính doanh nghiệp dành cho nhà đầu tư: là người hùng vốn vào doanh nghiệp, nhà đầu tư chứng khoán,...
3. Tài chính doanh nghiệp dành cho ngân hàng: là cán bộ tín dụng, trưởng phòng tín dụng, giám đốc ngân hàng...
4. Tài chính doanh nghiệp dành cho người yêu thích nghiên cứu về lình vực tài chính, sinh viên, ….
Mặc dù chia thành 04 nhóm nhưng vấn đề cốt lõi của doanh nghiệp nghiên cứu vẫn không thay đổi, vì vậy người đọc có thể xem qua các dạng bài phân tích để hiểu vấn đề mà mình quan tâm hơn.

Bài toán 1: (tài chính doanh nghiệp dành cho CÔNG TY)
PHÂN TÍCH CHU KỲ VỐN LƯU ĐỘNG
*.*.* *.............**.*.*
*.*......*.*......*.*.........*.*
*.*..............*................*.*
*.*.........LOVE..........*.*
*. (\__/) (\__/) .*
(^_^) (='o'=)
(")__(") (")__(")
1. Số liệu công ty cung cấp:
Bảng 1: Chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán
Chỉ tiêu
...31/12/2000...
...31/12/2001...
...31/12/2002...
Phải thu khách hàng
2.800
3.200
2.300
Hàng tồn kho
6.320
6.240
7.600
Phải trả người bán
2.550
1.700
2.380
Bảng 2: Chỉ tiêu trong Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Chỉ tiêu
...Năm 2001...
...Năm 2002...
Doanh thu thuần
27.500
31.000
Giá vốn hàng bán
19.100
22.000
Doanh số mua hàng (*)
18.900
23.300
(*): Doanh số mua vào không thể hiện trực tiếp trên báo cáo tài chính. Vì vậy, phải tổng hợp một số chỉ tiêu từ bảng cân đối số phát sinh.
Từ số liệu bảng 1 và 2 ta tính được như sau:
Chỉ tiêu
...31/12/2001...
...31/12/2002...
...So sánh...
Mức tiết kiệm
vốn lưu động (tr.đ)
Số ngày tồn kho
118
113
(5)
-314
Số ngày thu tiền bán hàng
39
32
(7)
-632
Số ngày trả tiền mua hàng
40
31
(9)
-580
Chu kỳ vốn lưu động
117
113
(4)
(366)
2. Phân tích
-         Số ngày dự trữ hàng tồn kho năm 2001 là 118 ngày, năm 2002 là 113 ngày, giảm được 5 ngày, có thể do công ty đã có biện pháp quản lý hàng tồn kho tốt hơn, giảm tồn kho ứ đọng và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm…
-         Số ngày thu tiền bán hàng năm 2001 là 39 ngày, năm 2002 là 32 ngày, giảm được 7 ngày, có thể là do công ty thay đổi chính sách bán chịu, áp dụng các biện pháp thu hồi nợ gắt gao hơn hoặc nâng tỷ lệ chiết khấu thanh toán cho khách hàng.
-         Số ngày trả tiền mua hàng năm 2001 là 117 ngày, năm 2002 là 113 ngày, giảm  4 ngày, có thể do công ty không thành công trong đàm phán và không được nhà cung cấp bán chịu với thời hạn dài hơn. Cũng có thể công ty có khả năng thanh toán đúng hạn các khoản nợ cho nhà cung cấp làm nợ giảm.
Tóm lại, trong năm 2002 do rút ngắn chu kỳ vốn lưu động xuống 4 ngày so với năm 2001, công ty đã tiết kiệm được 366 tr.đ vốn lưu động. Trong đó, rút ngắn được thời gian tồn kho 5 ngày tiết kiệm được 314 tr.đ, rút ngắn thời gian thu tiền bán hàng 7 ngày giảm được 632 tr.đ. Tuy nhiên do công ty phải giảm số ngày chiếm dụng vốn của người bán 9 ngày nên nhu cầu vốn lưu động đã tăng lên 580 tr.đ./.

---------------------------------------------------
Sưu tầm

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Các ngân hàng đang gặp những khó khăn gì?

picture
VNBA kiến nghị Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên.

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa tổng hợp ý kiến của các ngân hàng thương mại, gửi tới Cục Phát triển Doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) theo yêu cầu báo cáo tình hình tổ chức hội viên về việc rà soát thực trạng hoạt động doanh nghiệp trong Hiệp hội.

Theo bản tổng hợp này, các ngân hàng thương mại đang đối mặt với những khó khăn trong huy động và cho vay, dẫn đến khó đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và dẫn đến những hạn chế nội tại.

VNBA cho biết, về huy động vốn, với trên 90% tỷ trọng vốn của ngân hàng hiện nay là nguồn vốn ngắn hạn, gây khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong việc quản trị nguồn vốn, khó bảo đảm cân đối kỳ hạn. Kỳ hạn huy động vốn bình quân có xu hướng rút ngắn trong khi kỳ hạn cho vay bình quân dài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất.

Hơn nữa, sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

Về tăng trưởng tín dụng, trên cơ sở ý kiến của các hội viên, VNBA cho rằng, do hàng tồn kho lớn, sản xuất của các khách hàng đang suy giảm nghiêm trọng, các ngân hàng khó khăn trong thu nợ (gốc, lãi), nợ xấu có xu hướng tăng cao. Một số lĩnh vực cho vay cần ưu tiên như cho vay nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều khó khăn do khách hàng vay không đủ điều kiện để ngân hàng xem xét cho vay (không có phương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả không có hoặc không đủ tài sản bảo đảm, tình hình tài chính không minh bạch, nợ xấu phát sinh do không tiêu thụ được sản phẩm...).

Cụ thể hơn, ở tình hình huy động vốn, những tháng đầu năm lạm phát tăng cao, các ngân hàng gặp khó khăn, nguồn vốn huy động toàn hệ thống có xu hướng giảm. Tuy nhiên, sau khi có Chỉ thỉ 02 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, với việc xử lý nghiêm các ngân hàng vi phạm trần lãi suất huy động vốn, VNBA nhìn nhận rằng hầu hết các tổ chức tín dụng đã nghiêm túc thực hiện trần lãi suất; hiện tượng chạy đua lãi suất, khách hàng mặc cả lãi suất với ngân hàng trước đây, đến nay nhìn chung đã giảm đáng kể. Đến 23/3/2012, mặc dù trần lãi suất huy động đã giảm 1% nhưng tổng nguồn vốn huy động của hệ thống đã tăng 1,5% so với cuối năm 2011.

Qua thực tế tình hình huy động vốn, theo VNBA, một số ngân hàng thương mại có lợi thế về mạng lưới, thương hiệu, nguồn vốn huy động tăng mạnh; một số ngân hàng quy mô nhỏ huy động vốn trên thị trường 1 gặp khó khăn, một số khác quản trị rủi ro thanh khoản yếu, vốn huy động phụ thuộc lớn vào thị trường 2, nắm giữ ít giấy tờ có giá, thực hiện cạnh tranh lách huy động vốn với lãi suất cao đã ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng khác và gây mất ổn định thị trường tiền tệ.

Tuy nhiên, do Ngân hàng Nhà nước có biện pháp xử lý kịp thời thông qua tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và các biện pháp khác, nên về cơ bản thanh khoản VND toàn hệ thống hiện vẫn đảm bảo.

Về tín dụng, báo cáo của VNBA tổng hợp rằng các tổ chức hội viên đã điều chỉnh lãi suất cho vay VND theo xu hướng giảm dần, phù hợp với xu hướng giảm của lãi suất huy động. Và mặc dù, các ngân hàng đã “giảm mạnh” mức lãi suất cho vay, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng, tăng trưởng tín dụng toàn ngành cuối năm 2011 chỉ đạt 12%, còn trong những tháng đầu năm 2012, dư nợ cho vay nền kinh tế giảm mạnh, đến 23/3/2012 giảm khoảng 2% so với cuối năm 2011.

Về chất lượng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu, trong bối cảnh lãi suất vẫn còn cao, môi trường kinh tế trong và ngoài nước tiềm ẩn rủi ro, các doanh nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, làm dư nợ quá hạn và nợ xấu có xu hướng gia tăng. Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tổ chức tín dụng đến 29/2/2012 là 3,42%.

Cũng theo VNBA, thu nhập của ngân hàng đến chủ yếu từ hoạt động cho vay, nhưng năm qua với điều kiện kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng của hầu hết các ngân hàng bị ảnh hưởng, dẫn đến hiệu quả hoạt động của hầu hết ngân hàng bị giảm sút đáng kể. Biên độ lợi nhuận bị thu hẹp so với năm 2010, tỷ lệ ROA, ROE có xu hướng giảm; đến tháng 10/2011, tỷ lệ ROA toàn hệ thống đạt 1,02%, ROE đạt 10,4%.

Với những khó khăn và thực tế trên, đầu mối đại diện tiếng nói cho các ngân hàng thương mại kiến nghị Chính phủ với một số giải pháp cơ bản.

Cụ thể, VNBA cho rằng cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong vấn đề xử lý khối lượng hàng tồn kho lớn, đặc biệt có các giải pháp tháo gỡ thị trường bất động sản, giải tỏa vốn vay ngân hàng; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay từ các ngân hàng thông qua chính sách hoãn, giãn thuế cho một số đối tượng doanh nghiệp được ưu tiên hoặc bảo lãnh của nhà nước khi vay vốn.

Chính phủ cần có chính sách khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, tạo điều kiện cho các khách hàng lĩnh vực này tiếp cận được nguồn vốn lãi suất thấp, với thời gian phù hợp.

Cơ quan quản lý cũng cần hoàn thiện khung pháp lý đối với các hoạt động mua bán nợ, mua bán tài sản đảm bảo, giải thể, sáp nhập, mua bán các công ty, doanh nghiệp, đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp theo chủ trương, định hướng của Chính phủ, lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thương mại cho vay.

Chính phủ cần có chính sách kích cầu tiêu dùng để khuyến khuyến người dân dùng hàng nội trên cơ sở thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, thu hồi được vốn tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động sản xuất - kinh doanh…

Theo Vneconomy

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Dự báo lãi suất cho vay sẽ giảm sâu từ quí 3


Đại diện một ngân hàng thương mại cổ phần lớn dự báo rằng, lãi suất sẽ đồng loạt về 15,5% trong tháng 7 và tháng 8 tới.
Đa phần các nhận định từ phía các ngân hàng và chuyên gia đều cho rằng phải từ đầu quí 3, mặt bằng lãi suất cho vay mới thực sự giảm sâu, dù lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp đang giảm dần nhưng mức giảm vẫn chưa nhiều và chưa rộng như mong đợi.
Đại diện một ngân hàng thương mại cổ phần lớn dự báo rằng, lãi suất sẽ đồng loạt về 15,5% trong tháng 7 và tháng 8 tới.
Ông nói thực sự các gói vay với lãi suất giảm mà các ngân hàng công bố thời gian qua vẫn chủ yếu cho các đối tượng ưu tiên, chưa lan tỏa rộng, hoặc cũng chỉ có vài ngân hàng có vốn lớn, hạ lãi suất do chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
“Vấn đề của 6 tháng đầu năm tại các ngân hàng là giải quyết nợ xấu, nếu giải quyết được cơ bản thì mặt bằng lãi suất sẽ xuống sâu”, vị này khẳng định.
Lãi suất ở Ngân hàng Á Châu (ACB) hiện phổ biến ở 17,5%. Tổng giám đốc ACB Lý Xuân Hải cho rằng, việc hạ lãi suất là nhu cầu tất yếu của thị trường. Ông Hải cho nói thêm rằng, cả ngân hàng và doanh nghiệp đều muốn thực hiện điều này, vì vậy trong thời gian tới, lãi suất sẽ giảm xuống mạnh hơn.
Còn hiện tại, theo ông Hải, do các ngân hàng đang thăm dò tình hình hấp thụ vốn của doanh nghiệp và biên lợi nhuận để đưa ra mức lãi suất phù hợp nên họ chưa thể giảm nhiều.
Trao đổi trong một hội thảo gần đây, tiến sĩ Trần Du Lịch đánh giá rằng, việc giảm lãi suất như vừa qua là chậm chứ không nhanh. "Nếu còn chờ nữa thì tới thời điểm doanh nghiệp nín thở, tắt hơi sẽ không kịp cứu", ông Lịch nói. Theo ông Lịch, năm nay sẽ khó đạt mức tăng trưởng tín dụng 15-17% như mục tiêu của NHNN đã thông báo do doanh nghiệp sẽ rất dè dặt vay vốn, vì những khó khăn gặp phải khiến họ lo ngại không trả được nợ.
Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ông Phạm Hồng Hải, Giám đốc Phòng Kinh doanh vốn và thị trường tiền tệ của Ngân hàng HSBC cho rằng, quyết định của NHNN đã được thị trường trông đợi và sẽ giúp giảm chi phí vay vốn của người dân và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hết sức cần thiết trong bối cảnh GDP quí 1 chỉ tăng 4,1%.
Trong thời gian qua, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng đã giảm. Đối với kỳ hạn dưới 3 tháng, thị trường liên ngân hàng đã giao dịch dưới 12% trong thời gian gần đây. Do đó, việc cắt giảm lãi suất của NHNN là hoàn toàn hợp lý khi đưa mặt bằng lãi suất tiền gửi sát với lãi suất thực của thị trường.
Trong khi đó, ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright khi nói đến quan điểm áp trần lãi suất cho vay thay vì trần lãi suất huy động, ông cho rằng không nên áp dụng bất cứ trần nào vì sẽ làm méo mó thị trường tín dụng.
Ông nói nếu áp lãi vay sẽ làm triệt tiêu cơ sở phân loại khách hàng và đánh giá rủi ro của ngân hàng. Công cụ duy nhất hiện tại của ngân hàng là lãi suất, với doanh nghiệp nhiều rủi ro, lãi suất cho vay cao, nếu rủi ro thấp thì lãi suất cũng giảm theo. Còn nếu áp trần lãi suất tiền gửi thì bất công cho người gửi tiền, đặc biệt là người gửi tiền nhỏ và vừa (những người có tiền lớn vẫn được hưởng lãi suất cao hơn và được cho vay với lãi suất mình muốn).
Ông Anh cho rằng, khi chặn không nên chỉ chặn 1 đầu, chắc chắn sẽ tạo ra vấn đề, mà nên chặn cả 2 hoặc bỏ cả 2. Nếu chặn thì đưa ra mức trần gửi là 12% và cho biên lợi nhuận hợp lý là 3-4% thì lãi suất tối đa là 15-16%.
Việc áp một đầu lãi suất khiến cho một nhóm được hưởng lợi thế trong khi người nghèo, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu thiệt hại. Nếu bỏ trần lãi suất mà hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được thực hiện hiệu quả thì sẽ không có một cuộc chạy đua lãi suất nào cả, vì Ngân hàng Nhà nước đã biết ngân hàng nào yếu và đã có biện pháp xử lý sát sao rồi.
“Trần lãi suất vẫn được duy trì thì có nghĩa là quá trình tái cấu trúc vẫn chưa có kết quả và chúng ta sẽ phải tiếp tục chờ”, ông Anh nói.
Thực tế cho thấy nhiều ngân hàng đã công bố hạ thêm lãi suất cho vay sau khi NHNN tuyên bố giảm lãi suất huy động, áp dụng từ ngày 11-4 vừa qua.
Eximbank là ngân hàng đầu tiên thông báo dành 6.000 tỉ đồng với lãi suất 16,5%/năm, được áp dụng ngay từ ngày 11-4 cho các đối tượng là doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, hỗ trợ vốn mua nhà đối với người có thu nhập thấp.
Cùng ngày, BIDV cũng đã tổ chức họp báo về việc điều chỉnh hạ lãi suất. Cụ thể, đối với cho vay ngắn hạn thông thường chỉ còn mức 14,5%/năm, giảm 2,5 điểm phần trăm/năm so với trước đó; vay trung, dài hạn thông thường từ 16-18%/năm, giảm khoảng 1,5 điểm phần trăm. Còn cho vay ngắn hạn đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ chỉ còn từ 14%/năm, cho vay sản xuất, hỗ trợ xuất khẩu chỉ từ 13,5%/năm.
Vừa qua TienPhong Bank cũng triển khai chương trình dành 1.500 tỉ đồng cho vay lãi suất ưu đãi cho lĩnh vực công nghệ cao, kinh doanh xuất khẩu... và một số dự án tốt được hưởng mức lãi suất thấp nhất là 14%. Vietcombank cũng đang có ý định giảm thêm lãi suất trong tuần này.

Theo TBKTSG

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Đồng loạt giảm các lãi suất điều hành

Các quy định mới về lãi suất bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11/4/2012.

picture

Trong vòng chưa đầy một tháng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm đồng loạt các lãi suất điều hành.

Ngày 10/4/2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 693/QĐ-NHNN về mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng.

Theo đó, các lãi suất chủ chốt trên được điều chỉnh giảm 1%/năm so với trước đó. Cụ thể, lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; lãi suất tái chiết khấu là 11%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng là 14%/năm.

Quyết định trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/4/2012 và thay thế Quyết định số 407/QĐ-NHNN ngày 12/3/2012 về các mức lãi suất nói trên.

Cùng ngày, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 08/2012/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12%/năm; riêng quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12,5%/năm.

Như vậy, trần lãi suất huy động đối với VND giảm thêm 1%/năm.

Thông tư 08 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/4/2012. Đối với lãi suất tiền gửi bằng VND có kỳ hạn của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát sinh trước ngày Thông tư 08 có hiệu lực thi hành, được thực hiện cho đến hết thời hạn; trường hợp hết thời hạn đã thỏa thuận, tổ chức, cá nhân không đến lĩnh tiền gửi, thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ấn định lãi suất đối với tiền gửi theo quy định tại thông tư này.

Thống đốc cũng giao Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện quy định về mức lãi suất tiền gửi bằng VND; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vi phạm quy định.

Theo Vneconomy.vn

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

20 nền kinh tế nợ nước ngoài “đầm đìa”

pictureIreland hiện là quốc gia có tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP cao nhất thế giới.


Với cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực châu Âu gây tác động sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tình hình nợ nần của các quốc gia đang là một chủ đề được giới đầu tư quốc tế đặc biệt quan tâm.

Tình hình Hy Lạp gần đây đã “tạm yên” sau khi Athens đạt được một thỏa thuận hoán đổi nợ với các chủ nợ trái phiếu và sắp sửa được Liên minh châu Âu (EU) bơm cho một gói cứu trợ thứ hai. Tuy nhiên, khủng hoảng nợ vẫn đang tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại, vì không chỉ Hy Lạp mà rất nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đang mang những khoản nợ nước ngoài khổng lồ.

Sử dụng dữ liệu mới nhất (tính đến quý 3/2011) về 75 nền kinh tế lớn nhất thế giới từ Ngân hàng Thế giới (WB), hãng tin CNBC vừa cập nhật danh sách 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có tỷ lệ nợ nước ngoài cao nhất so với GDP.

CNBC cho biết, nợ nước ngoài của các nền kinh tế được tính là tổng nợ (bao gồm cả tiền gốc lẫn tiền lãi) mà một quốc gia - bao gồm cả chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp và người dân - có nghĩa vụ phải trả cho các chủ nợ ở bên ngoài biên giới quốc gia đó. 

Chẳng hạn, nợ Chính phủ Mỹ không chỉ do các quốc gia khác như Trung Quốc và Nhật Bản nắm giữ, mà còn do các chủ nợ trong nước nắm giữ. Tuy nhiên, phần nợ do các chủ nợ tại Mỹ nắm giữ không được tính là nợ nước ngoài của Mỹ. Trong khi đó, nợ nước ngoài của Mỹ còn bao gồm tiền nợ mà các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân Mỹ vay của chủ nợ nước ngoài.

Nhật Bản là quốc gia có tỷ lệ nợ công/GDP cao nhất thế giới, nhưng không nằm trong nhóm nước nợ nước ngoài nhiều nhất, một phần vì có tới 95% nợ công của Nhật là do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ.

Dưới đây là danh sách 20 nền kinh tế nặng nợ nước ngoài nhất thế giới do CNBC mới cập nhật. Các nền kinh tế châu Âu chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong danh sách này:

20. Mỹ

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 99,46% 
Tổng nợ nước ngoài: 14,959 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 15,040 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 47.664 USD

19. Hungary

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 110,3% 
Tổng nợ nước ngoài: 216,16 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 195,9 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 21.706 USD

18. Italy

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 136,6% 
Tổng nợ nước ngoài: 2,494 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 1,826 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 40.724 USD

17. Australia

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 139,9% 
Tổng nợ nước ngoài: 1,283 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 917,7 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 58.322 USD

16. Tây Ban Nha

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 169,5% 
Tổng nợ nước ngoài: 2,392 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 1,411 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 50.868 USD

15. Hy Lạp

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 178,9% 
Tổng nợ nước ngoài: 546,92 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 305,6 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 50.792 USD

14. Đức

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 183,9% 
Tổng nợ nước ngoài: 5,674 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 3,085 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 69.788 USD

13. Bồ Đào Nha

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 207,3% 
Tổng nợ nước ngoài: 511,94 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 246,9 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 47.483 USD

12. Áo

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 241,3% 
Tổng nợ nước ngoài: 847,95 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 351,4 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 103.160 USD

11. Phần Lan

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 244,8% 
Tổng nợ nước ngoài: 478,84 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 195,6 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 90.984 USD

10. Nauy

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 246,9% 
Tổng nợ nước ngoài: 653,29 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 264,5 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 138.783 USD

9. Pháp

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 254,4% 
Tổng nợ nước ngoài: 5,632 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 2,21 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 85.824 USD

8. Thụy Điển

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 262,3% 
Tổng nợ nước ngoài: 995,2 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 379,4 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 109.318 USD

7. Hồng Kông

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 265,7% 
Tổng nợ nước ngoài: 939,83 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 353,7 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 131.380 USD

6. Đan Mạch

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 283,2% 
Tổng nợ nước ngoài: 591,4 tỷ USD
GDP năm 2011 (ước tính): 208,8 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 106.680 USD

5. Bỉ

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 353,7% 
Tổng nợ nước ngoài: 1,457 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 412 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 139.613 USD

4. Hà Lan

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 367% 
Tổng nợ nước ngoài: 2,590 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 705,7 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 154.820 USD

3. Thụy Sỹ

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 391,3% 
Tổng nợ nước ngoài: 1,332 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 340,5 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 174.022 USD

2. Anh

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 451,4% 
Tổng nợ nước ngoài: 10,157 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 2,250 nghìn tỷ USD 
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 161.110 USD

1. Ireland

Tỷ lệ nợ nước ngoài (% so với GDP): 1.239% 
Tổng nợ nước ngoài: 2,26 nghìn tỷ USD 
GDP năm 2011 (ước tính): 182,1 tỷ USD
Nợ nước ngoài bình quân đầu người: 478.087 USD


Theo Vneconomy

Girls Generation - Korean