Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ thông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bộ thông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Cấu trúc nguồn thu của VinaPhone thay đổi lớn

VinaPhone vừa cho biết đạt tổng doanh thu trên 1 tỷ USD (gần 25.000 tỷ đồng) và có tốc độ phát triển thuê bao thực mới có phát sinh cước lên tới 30% trong năm 2012.

Tổng thuê bao thực của nhà mạng này đến cuối năm 2012 đạt gần 22 triệu, tăng 6 triệu so với 2011. Đặc biệt, doanh thu từ mảng phi thoại của VinaPhone tăng đột biến và chiếm tới 52% tổng cước thu được.

Theo lý giải VinaPhone, có ba lý do dẫn tới kết quả trên. Thứ nhất, năm 2012, họ đã phát triển thành công nhiều dịch vụ gia tăng mới, trong đó có nhiều tiện ích trên nền 3G. Tổng số lượng dịch vụ gia tăng của VinaPhone vào cuối năm đã lên tới con số 80. Đây là nhân tố kích thích tiêu dùng và làm gia tăng mạnh nguồn thu từ dịch vụ phi thoại.


Thứ hai, hạ tầng 3G của VinaPhone có sự đầu mạnh về cả vùng phủ lẫn chất lượng, hỗ trợ tốt hơn việc sử dụng các dịch vụ phi thoại của khách hàng. Trong năm trước, VinaPhone đã nâng cấp mạng lưới từ 3G lên 3,5G, đưa tốc độ download tối đa lên 21,6 Mbps và upload tới 5,76 Mbps. Doanh thu từ các dịch vụ 3G tăng tới 60% trong năm 2012 là một kết quả cụ thể cho hướng đầu tư đó.

Thứ ba, tốc độ phát triển thuê bao mới có phát sinh cước cao, đi kèm với việc cải thiện doanh thu từ dịch vụ phi thoại nói chung đã góp phần tạo ra sự thay đổi lớn trong cấu trúc nguồn thu của nhà mạng này.

Một lãnh đạo của VinaPhone nói rằng, doanh thu từ dịch vụ phi thoại năm 2012 tăng mạnh là một kết quả tích cực. Tuy nhiên, thách thức của nhà mạng này trong năm 2013 sẽ rất lớn khi đặt mục tiêu tăng doanh thu 3G lên tới 100% trong bối cảnh kinh tế cũng như ngành viễn thông sẽ tiếp tục khó khăn.

“Chúng tôi xác định, cần phải nỗ lực nhiều hơn năm 2012 mới có thể đạt được mục tiêu kinh doanh này”, ông này nói.

Cùng với nguồn thu từ dịch vụ phi thoại tăng mạnh, chất lượng của dịch vụ thoại VinaPhone cũng được đánh giá cao trong năm qua. Theo kết quả đo kiểm của Cục Viễn thông, Bộ Thông tin và Truyền thông, mạng viễn thông này có điểm chất lượng thoại là 4,03 - mức cao nhất trong số các hãng thông tin di động được đo kiểm định kỳ trong năm 2012.

Theo Vneconomy

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Đến năm 2015, 30% giấy phép xây dựng được cấp trực tuyến

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng lộ trình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cấp giấy phép xây dựng thống nhất trên toàn quốc nhằm bảo đảm đến năm 2015, 30% giấy phép xây dựng được cấp theo hình thức trực tuyến.

Đó là ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về việc xây dựng và triển khai dự án "Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cấp giấy phép xây dựng thống nhất trên toàn quốc".


Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, đề xuất phương án đặt hàng, thuê dịch vụ (hạ tầng, đường truyền, thiết bị kỹ thuật, phần mềm) của các doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước để cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với việc cấp phép xây dựng.

Đồng thời, xây dựng lộ trình triển khai nhằm bảo đảm đến năm 2015, 30% giấp phép xây dựng được cấp theo hình thức trực tuyến, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 2/2013.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý cần thiết cho phép các cơ quan nhà nước thuê dịch vụ công nghệ thông tin từ các doanh nghiệp trong nước nhằm đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả của bộ máy hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Được biết, dự án "Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cấp giấy phép xây dựng thống nhất trên toàn quốc" dự định xây dựng hệ thống phần mềm chung cho các địa phương trong công tác cấp giấy phép xây dựng và quản lý xây dựng, tiến tới trực tuyến công tác cấp giấy phép xây dựng (dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3) áp dụng cho khoảng 30% địa phương trong cả nước.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin này nhằm quản lý một cách hệ thống, thống nhất thông tin về cấp giấy phép xây dựng trong phạm vi cả nước, ttừ Bộ Xây dựng đến Sở Xây dựng và các bộ phận cấp phép xây dựng tại các quận, huyện. Đồng thời, góp phần giảm thiểu thời gian thụ lý hồ sơ, giảm thiểu sai sót, đảm bảo độ chính xác khi thực hiện cấp phép xây dựng; nâng cao khả năng trao đổi và tích hợp thông tin trong nội bộ các đơn vị thuộc các cấp.

Dự án cũng nhằm nâng cao khả năng cung cấp thông tin chính xác, hệ thống và tổng hợp cho các đơn vị. Cung cấp kịp thời, thường xuyên số liệu về cấp phép xây dựng trên địa bàn tỉnh, thành phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Bộ Xây dựng, UBND tỉnh, thành và hoạt động điều hành, tác nghiệp tại Sở Xây dựng cùng các UBND quận, huyện.

Theo Chinhphu.vn

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

10 sự kiện nổi bật của VNPT năm 2012

Dù năm 2012, thị trường các dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin tiếp tục có sự cạnh tranh mạnh mẽ, song Tập đoàn VNPT vẫn hoàn thành xuất sắc các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đề ra. Dưới đây là 10 sự kiện nổi bật, tiêu biểu vừa có ý nghĩa với nội bộ Tập đoàn, vừa có ý nghĩa là những nỗ lực, đóng góp của VNPT với đất nước và xã hội trong năm 2012.

1. VNPT phóng thành công vệ tinh VINASAT-2

Đúng 5h13’ ngày 16/5/2012 theo giờ Việt Nam , vệ tinh VINASAT - 2 đã được phóng thành công lên quỹ đạo từ bãi phóng Kourou tại Guyana (Nam Mỹ). Đây là dự án VNPT được Chính phủ giao thực hiện từ tháng 12/2009. Vệ tinh VINASAT-2 do Tập đoàn Lockheed Martin (Mỹ) sản xuất trên nền tảng khung A2100 với công nghệ hiện đại, có tuổi thọ thiết kế là 15 năm. Với khả năng phủ sóng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan và một phần Myanmar và dung lượng truyền dẫn tương đương 13.000 kênh thoại/Internet/truyền số liệu hoặc khoảng 150 kênh truyền hình, VINASAT-2 sẽ góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược của quốc gia về tăng cường năng lực hạ tầng viễn thông, đáp ứng nhu cầu sử dụng vệ tinh của thị trường trong nước và khu vực; khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên tần số và quỹ đạo vệ tinh mà Việt Nam đã đăng ký với quốc tế tại vị trí 131,8 độ Đông. VINASAT-2 sẽ cùng VINASAT-1 tạo thành một hệ thống vệ tinh có khả năng dự phòng và giảm thiểu rủi ro giữa các vệ tinh, góp phần tăng cường độ an toàn cho mạng viễn thông quốc gia.

Phóng thành công vệ tinh Vinasat-2 là một trong 10 sự kiện nổi bật của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT trong năm 2012.

2. VNPT thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại VietnamPost về Bộ Thông tin và Truyền thông từ 1/1/2013

Ngày 19/12/2012, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) tổ chức Lễ ký Biên bản chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VietnamPost) từ VNPT về Bộ TT&TT, theo Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là sự kiện chuẩn bị cho thời điểm VietnamPost chính thức tách ra hoạt động độc lập với VNPT từ ngày 1/1/2013, đánh dấu việc hoàn thành quá trình chia tách Bưu chính - Viễn thông (BC-VT) của Việt Nam đã được khởi động từ hơn 10 năm trước đây.

Từ tháng 9/2001, VNPT đã khởi động lộ trình chia tách BC-VT bằng việc tiến hành thí điểm chia tách ở cấp huyện tại 10 tỉnh/thành phố. Đến tháng 6/2007, với việc VietnamPost được thành lập, quá trình chia tách BC-VT trên quy mô toàn VNPT và trong phạm vi toàn quốc đã được cụ thể hóa. Từ ngày 1/1/2008, tuy vẫn nằm trong VNPT nhưng VietnamPost đã có pháp nhân riêng, thực hiện tổ chức sản xuất và hạch toán độc lập với khối Viễn thông.

Trải qua 5 năm, dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự tạo điều kiện thuận lợi của VNPT và sự nỗ lực của mình, VietnamPost vẫn giữ vững và phát huy vai trò chủ lực về mạng lưới Bưu chính chuyển phát của đất nước, đảm bảo cung ứng tốt các dịch vụ bưu chính công ích, củng cố và nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển thêm các dịch vụ mới.

Việc tách VietnamPost hoạt động độc lập với VNPT là xu thế tất yếu, tạo điều kiện thuận lợi để cả VNPT và VietnamPost cùng đổi mới, phát triển mạnh mẽ hơn. Với VNPT, đây sẽ là một trong những bước đi quan trọng trong lộ trình tái cấu trúc, sắp xếp lại hệ thống kinh doanh của Tập đoàn. Còn với VietnamPost, đây sẽ là động lực để toàn ngành Bưu chính tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và phát triển bền vững.

3. VNPT tiếp tục đứng thứ 3 trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2012

Theo bảng xếp hạng VNR500 - Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2012 do Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) phối hợp với Báo điện tử VietNamNet công bố, VNPT là doanh nghiệp giữ vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng này.

Trong 6 năm từ 2007 – 2012, VNPT liên tục nằm trong top 5 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và trong 2 năm liền 2011 và 2012, VNPT đã đứng ở vị trí thứ 3. Cũng trong năm 2012, VNPT đã lần thứ 3 liên tiếp được vinh danh là Thương hiệu Quốc gia – Chương trình do Bộ Công thương tổ chức 2 năm một lần, từ 2008.

Năm 2012, mặc dù trong điều kiện khó khăn chung của kinh tế đất nước do suy giảm kinh tế toàn cầu và sự cạnh tranh gay gắt của thị trường BCVT - CNTT, VNPT vẫn giữ mức tăng trưởng khá với doanh thu đạt 130.390 tỷ đồng, bằng 107,94% so với năm 2011; lợi nhuận đạt 8.768 tỷ đồng, bằng 101,25% kế hoạch; nộp ngân sách Nhà nước 7.561 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, bằng 101,48% so với năm 2011.

Để đạt được kết quả đó, trong năm qua, VNPT tiếp tục đổi mới, phát huy hiệu quả của cơ chế kinh tế nội bộ đã triển khai từ giữa năm 2011, tăng cường các giải pháp quản lý, điều hành hướng mạnh vào tính hiệu quả; thực hiện tối ưu hóa mạng lưới, đặc biệt là sử dụng chung cơ sở hạ tầng và hoàn thành việc roaming 2 mạng Vinaphone, Mobifone; thực hiện chính sách bán hàng linh hoạt, phù hợp với nhu cầu và lợi ích của các nhóm đối tượng khách hàng.

4. Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn tổ chức Hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI

Thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong các ngày 17, 18 và 20/10/2012, Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn BCVT Việt Nam tổ chức Hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ.

Với tinh thần trách nhiệm cao, các đồng chí trong Ban Thường vụ đã nghiên cứu, chuẩn bị nghiêm túc nội dung kiểm điểm, thẳng thắn đóng góp ý kiến xây dựng, chỉ ra những ưu, khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ và từng cá nhân Ủy viên Ban Thường vụ.

Hội nghị Kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tập thể Ban Thường vụ; tạo sự chuyển biến mới trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Tập đoàn BCVT Việt Nam, giúp Đảng bộ tiếp tục lãnh đạo thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao.

5. Công đoàn Bưu điện Việt Nam kỷ niệm 65 năm thành lập và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất

Là một trong 20 Công đoàn ngành Trung ương, trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Công đoàn BĐVN hiện có hơn 8 vạn đoàn viên là CBVC làm việc tại VNPT, thuộc 113 công đoàn trực thuộc, đóng trên địa bàn của 63 tỉnh, thành phố.

Qua 65 năm hoạt động, Công đoàn BĐVN luôn phát huy vai trò của mình trong công tác giáo dục, vận động cán bộ, đoàn viên lấy nền tảng truyền thống và cách mạng vẻ vang của dân tộc, truyền thống “Trung thành - Dũng cảm - Tận tụy - Sáng tạo - Nghĩa tình” của ngành Bưu điện làm phương châm hành động; đóng góp lớn vào quá trình xây dựng và phát triển của ngành Bưu điện và Tập đoàn BCVT Việt Nam. Thành tích của Công đoàn BĐVN đã đượ̣c Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý, tiêu biểu là Huân chương Hồ Chí Minh giai đoạn 1997 - 2007. Năm 2012, nhân dịp kỷ niệm 65 năm thành lập (30/8/1947-30/8/2012), Công đoàn BĐVN đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất giai đoạn 2007 - 2011.

6. VNPT khai trương Mạng Truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng và Nhà nước

Ngày 22/3, tại Hà Nội, VNPT đã chính thức khai trương mạng Truyền số liệu chuyên dùng (TSLCD) phục vụ các cơ quan Đảng và Nhà nước. Đây là dự án VT-CNTT quy mô toàn quốc, có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong việc đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, kịp thời, chính xác và an toàn trong mọi tình huống, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tới các bộ, ban, ngành Trung ương và các địa phương trong cả nước. Dự án cũng góp phần tạo tiền đề cho quá trình thực hiện cải cách hành chính, hướng tới việc xây dựng Chính phủ điện tử trong tương lai.

Trên cơ sở hạ tầng hiện đại, mạng TSLCD đáp ứng với chất lượng cao nhiều dịch vụ như: truyền hình hội nghị; truy cập Internet tốc độ cao; kết nối mạng riêng ảo; truyền hình Internet (IPTV); các dịch vụ dữ liệu và dịch vụ trên nền IPv6 ....

Dự kiến trong giai đoạn 2012-2014, mạng TSLCD sẽ tiếp tục mở rộng kết nối tới hơn 11.000 xã, phường trên cả nước; phấn đấu đến năm 2015, 100% xã, phường được kết nối vào mạng TSLCD, tạo nên một mạng thông tin liên lạc thông suốt, hiệu quả giữa Trung ương với tất cả các địa phương.

7. VNPT tiên phong trên chặng đường 15 năm Internet Việt Nam

Năm 2012, kỷ niệm 15 năm Việt Nam hòa mạng Internet toàn cầu (19/11/1997-19/11/2012), VNPT đã tổ chức Cuộc thi “Internet - Real life” dành cho cộng đồng sử dụng mạng và phối hợp với Hiệp hội Internet Việt Nam tổ chức Chương trình Kỷ niệm 15 năm Internet Việt Nam, phát sóng trực tiếp trên VTV.

15 năm phát triển của Internet Việt Nam vừa qua đã cho thấy những đóng góp to lớn của Internet đối với sự phát triển nhiều mặt của đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội Việt Nam cũng như mở ra một cánh cửa hội nhập, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và thế giới.

Góp phần quan trọng vào sự phát triển Internet tại Việt Nam, trong những năm qua, với vai trò là Tập đoàn BCVT-CNTT chủ lực của đất nước, VNPT đã có nhiều nỗ lực đi đầu trong việc phát triển, hiện đại hóa hạ tầng mạng lưới, phổ cập sâu rộng Internet tại Việt Nam; phát triển các dịch vụ băng rộng cố định, di động và dịch vụ giá trị gia tăng trên nền Internet… Đến nay, VNPT có 3,1 triệu thuê bao Internet băng rộng (ADSL), chiếm 75% thị phần toàn quốc. Với những nỗ lực của VNPT, Internet đã và đang thực sự làm thay đổi cuộc sống của người dân từ thành thị đến nông thôn Việt Nam .

8. VNPT mở rộng hợp tác với nhiều đối tác trong nước, quốc tế

Năm 2012, VNPT tiếp tục mở rộng hợp tác với các bộ, ngành, các đối tác lớn trong nước và quốc tế như thỏa thuận hợp tác toàn diện với Bộ Y tế, Chương trình phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đẩy mạnh hợp tác với Intel Việt Nam, cùng China Mobile khánh thành tuyến cáp quang xuyên biên giới Việt-Trung, tham gia tuyến truyền dẫn Thái Lan – Campuchia – Việt Nam – Hồng Kông nhằm tăng tính dự phòng, nâng cao chất lượng các kết nối Internet tốc độ cao và các ứng dụng điện toán đám mây trong khu vực.

Bên cạnh đó, các đơn vị thành viên của VNPT cũng tăng cường mở rộng hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước, tiêu biểu như Mobifone tham gia và trở thành thành viên chính thức thứ 12 của Liên minh Bridge – Liên minh di động hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương; Công ty Viễn thông Quốc tế VNPT-I (tên gọi mới của Công ty VTI) ký kết hợp đồng với đối tác HKT Global (Singapore) phối hợp cung cấp dịch vụ kênh thuê riêng tại thị trường Campuchia; Học viện CNBCVT (PTIT) ký Thỏa thuận hợp tác với Đại học Kỹ thuật Thông tin và Truyền thông Mat-xcơ-va (MTUCI) và Đại học Viễn thông Xanh Pê-téc-bua trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy. Các hoạt động hợp tác của VNPT và các đơn vị thành viên trong năm 2012 nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của các bên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và xã hội về dịch vụ VT-CNTT.

9. VNPT với các phong trào thi đua thiết thực, hiệu quả

Năm 2012, VNPT tiếp tục tổ chức các phong trào thi đua sâu rộng, thiết thực gắn với các mục tiêu, kế hoạch SXKD, phát triển của VNPT. Điển hình là các phong trào như Sáng tạo VNPT, Chất lượng VNPT, Nụ cười VNPT.

Được phát động từ năm 2007, phong trào “Sáng tạo VNPT” nhằm tăng cường huy động trí tuệ của CBCNV tham gia nghiên cứu, sáng tạo, tìm những giải pháp, sáng kiến về quản lý, kỹ thuật, kinh doanh… góp phần nâng cao hiệu quả SXKD, năng lực cạnh tranh của VNPT. Qua 5 năm triển khai, đã có gần 17.000 giải pháp sáng kiến cấp cơ sở, hơn 500 sáng kiến và đề tài cấp Tập đoàn và hàng trăm đề tài sáng kiến cấp Bộ, làm lợi hàng trăm tỷ đồng.

Năm 2012 cũng là năm thứ 3 VNPT tổ chức thực hiện chương trình “Nụ cười VNPT” với mục tiêu chuẩn hóa các hoạt động giao tiếp với khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và phong cách bán hàng chuyên nghiệp.

Cùng với 2 phong trào trên, năm 2012, “Chất lượng VNPT” cũng là hoạt động được VNPT tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nhằm tăng cường đảm bảo an toàn, ổn định chất lượng mạng lưới, chất lượng các dịch vụ VT-CNTT của VNPT, đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng và xã hội, đảm bảo thông tin thông suốt đáp ứng các nhiệm vụ chính trị, an ninh quốc phòng.

10. Tuổi trẻ VNPT xung kích đi đầu trong sản xuất kinh doanh

Với phương châm “Tuổi trẻ hành động vì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp”,năm 2012, công tác Đoàn và phong trào Thanh niên VNPT được tổ chức gắn kết chặt chẽ với hoạt động SXKD và hoạt động cộng đồng của Tập đoàn. Tiêu biểu là việc Đoàn Thanh niên VNPT đã tổ chức tại nhiều địa phương trên cả nước những “Ngày xung kích thanh niên VNPT” - thiết lập các điểm tư vấn, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ của VNPT và chăm sóc khách hàng; tổ chức làm thêm ca, thêm giờ vào các ngày nghỉ trong đoàn viên, thanh niên.

Bên cạnh đó, Đoàn Thanh niên VNPT đã tổ chức nhiều hoạt động cộng đồng thiết thực như “Hành trình Tuổi trẻ nhiệt huyết” trao tặng “Thư viện thân thiện” và phổ cập tin học cho các em học sinh tại trường Tiểu học Pa Tần, khám chữa bệnh miễn phí cho bà con nhân dân huyện Sìn Hồ, Lai Châu; phối hợp với Intel tổ chức các lớp đào tạo, phổ cập tin học cho cán bộ Đoàn chủ chốt 3 miền Bắc-Trung-Nam trong chương trình Intel Easy Step; chương trình “Một triệu phút điện thoại miễn phí - VNPT Kết nối yêu thương" cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện và người dân vùng sâu, vùng xa.

Năm 2012, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội lần thứ XXI và cử đại biểu tham dự Đại hội Đoàn Toàn quốc lần thứ X, đồng chí Bí thư Đoàn Thanh niên Tập đoàn đã trúng cử vào Ban chấp hành TW Đoàn khóa X, nhiệm kì 2012-2017.

Theo Báo điện tử VnMedia

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

VNPT đứng trong top Tập đoàn kinh doanh có lãi

Tổng doanh thu của hai mạng di động Mobifone và Vinaphone do VNPT quản lý năm 2012 đạt 66.379 tỷ đồng, cụ thể doanh thu của Vinaphone năm 2012 đạt 25.579 tỷ đồng và Mobifone đạt 40.800 tỷ đồng, đóng góp hơn nửa doanh thu của VNPT trong năm 2012.ổng doanh thu của toàn Tập đoàn VNPT năm 2012 đạt 130.390 tỷ đồng, 100,3% kế hoạch, bằng 107,94% so với năm 2011. Tổng lợi nhuận đạt 8660 tỷ, đạt 100% kế hoạch, tổng nộp ngân sách nhà nước đạt 7.561 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, bằng 101,48% so với thực hiện năm 2011.


Đánh giá những thành quả của VNPT trong năm 2012, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng cho biết VNPT đã đóng góp xứng đáng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và vẫn đứng trong top Tập đoàn kinh doanh có lãi, thực hiện tốt các trách nhiệm xã hội.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa bền vững, nhiều dự án đầu tư chưa đúng, chưa trúng, dàn trải, hiệu quả của Vinaphone chưa tương xứng với tiềm năng.

Thông tin về hiệu quả của hai mạng di động Mobifone và Vinaphone trong năm 2012, Tổng giám đốc VNPT Vũ Tuấn Hùng cho biết trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế năm qua, hai mạng di động do VNPT quản lý năm qua tiếp tục có doanh thu và lợi nhuận cao. Vinaphone mặc dù thấp hơn Mobifone nhưng năm qua tốc độ tăng trưởng của Vinaphone đạt khá, 14% nhờ có sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ VNPT.

Về lợi nhuận trên vốn của VNPT giảm so với vài năm trước, Tổng giám đốc Vũ Tuấn Hùng cho biết VNPT năm 2012 đã trích lập dự phòng nợ khó đòi, dự phòng hàng tồn kho, đảm bảo thực chất vấn đề mà nhiều năm trước chưa được quan tâm. Điều này cũng làm giảm lợi nhuận nhưng tình hình tài chính thực sự lành mạnh hơn.

Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phóng vệ tinh, vệ tinh Vinasat-2 không chỉ có mục tiêu kinh doanh mà còn đảm bảo mục tiêu đảm bảo an ninh, chủ quyền quốc gia. Doanh thu từ quả vệ tinh này chưa được bao nhiêu. Vệ tinh cuối chu kỳ dự án thường có lợi nhuận, giai đoạn đầu của vệ tinh chưa có doanh thu do lãi suất vay và các khoản chi phí khác. Điều này cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận trên vốn của VNPT. VNPT đã báo cáo điều này cho Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan liên quan.

Điểm thứ hai theo Tổng giám đốc Vũ Tuấn Hùng khi VNPT chuyển công nghệ mạng di động lên 3G, giai đoạn đầu của đầu tư vốn mua thiết bị, các chi phí vận hành khai thác, lắp đặt lớn. Hai năm nay, VNPT đầu tư lớn cho 3G, VNPT phải đi vay vốn, khấu hao nhưng lợi nhuận chưa tương xứng với vốn đầu tư và khai thác nhưng sau này sẽ hiệu quả.

Tổng giám đốc VNPT Vũ Tuấn Hùng cho biết năm 2012, VNPT làm được rất lớn là ổn định tình hình tài chính, đảm bảo dòng tiền về VNPT so với các năm trước, tạo sự yên tâm cho cán bộ thực hiện kế hoạch năm 2013.

Chỉ đạo các công tác trọng tâm năm 2013, Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết VNPT cần khẩn trương phối hợp bàn giao tài sản giữa VNPT và Tổng công ty Bưu điện, tập trung vào đề án tái cơ cấu, xây dựng chương trình Viễn thông công ích giai đoạn mới, quản lý đảm bảo các dự án đầu tư, quản lý thuê bao trả trước, thực hiện nghiêm các quy định quản lý tin nhắn rác.

Theo ICT Press

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Khách truy cập web “đen”, đại lý bị phạt

Dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, CNTT và tần số vô tuyến điện đưa ra chế tài phạt tiền đối với các đại lý Internet, nếu để người sử dụng truy cập, xem, tải các thông tin, hình ảnh có nội dung đồi trụy, cờ bạc, mê tín dị đoan. Nhà cung cấp dịch vụ e ngại tính khả thi của quy định này.

Không quản được hoạt động của khách hàng, phạt tới 10 triệu đồng

Theo quy định tại dự thảo Nghị định, sẽ phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với các đại lý Internet nếu để người sử dụng truy cập, xem, tải các thông tin, hình ảnh có nội dung đồi trụy, cờ bạc, mê tín dị đoan. Ngoài ra, số tiền phạt lên tới 10 triệu đồng cũng được áp dụng nếu các đại lý Internet để người sử dụng máy tính thực hiện các hành vi bị cấm như tạo ra, cài đặt, phát tán các phần mềm độc hại, chống phá nhà nước, tiết lộ bí mật nhà nước...; sử dụng đường truyền thuê bao cá nhân để cung cấp dịch vụ truy nhập Internet cho công cộng hay hoạt động từ 0-8h hàng ngày hoặc không tuân thủ thời gian hoạt động do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định….


Còn đối với các điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng, số tiền phạt sẽ lên tới 20 triệu đồng nếu vi phạm các hành vi bao gồm: điểm cung cấp dịch vụ nằm trong bán kính của các trường tiểu học, THCS, THPT dưới 200m; không treo biển "Điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng"; hoạt động ngoài khoảng thời gian từ 8 giờ đến 22 giờ hàng ngày; không có đủ ánh sáng hoặc độ chiếu sáng không đồng đều trong phòng máy; tổng diện tích các phòng máy nhỏ hơn 50m2 tại các khu vực đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, loại II, loại III...

Có khả thi?

Một đại diện của Cty Điện toán truyền số liệu VDC chia sẻ, quy định điểm truy nhập Internet sẽ bị phạt từ 5-10 triệu đồng khi "để người sử dụng Internet sử dụng các tính năng của máy tính thực hiện các hành vi bị cấm tại Điều 5 Nghị định quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng" và "để người sử dụng truy cập, xem, tải các thông tin, hình ảnh, phim có nội dung đồi trụy, cờ bạc, bói toán, mê tín dị đoan" chưa thực sự hợp lý. Bởi vì, trên thực tế, đại lý Internet không thể nào quản lý, giám sát hết được việc người sử dụng tải về máy hay xem cái gì tại địa điểm truy nhập Internet.

"Thiết nghĩ, cơ quan quản lý nên nghiên cứu, xem xét đưa ra giải pháp phù hợp hơn cho trường hợp này”, vị này nói. “Ví dụ, yêu cầu chủ đại lý cài đặt phần mềm ngăn chặn việc truy nhập các website bị “cấm”, hoặc có những chế tài phù hợp với những khách hàng cố tình truy nhập khi tại địa điểm truy nhập Internet đã có khuyến cáo”.

Dự kiến, Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, CNTT và tần số vô tuyến điện sẽ được trình Chính phủ vào giữa tháng 3/2013 và có hiệu lực từ tháng 7/2013.

Dự thảo này cũng đưa ra mức phạt 100 - 150 triệu đồng đối với hành vi không cơ cấu lại vốn sở hữu đối với doanh nghiệp viễn thông thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ quyết định; phạt tiền từ 150 - 200 triệu đồng về việc nắm cổ phần chi phối không đúng quy định đối với doanh nghiệp thuộc danh mục doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng do Nhà nước nắm cổ phần chi phối.

Doanh nghiệp đồng thời sở hữu trên mức quy định đối với vốn điều lệ hoặc cổ phần trong hai hay nhiều doanh nghiệp viễn thông khác nhau cùng kinh doanh dịch vụ viễn thông thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cũng bị phạt từ 150 – 200 triệu đồng.

Theo Báo Pháp Luật VIệt Nam

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

77,6% lợi nhuận VNPT đến từ MobiFone

Thông tin từ MobiFone cho biết, năm 2012, mạng di động này đạt lợi nhuận trước thuế là 6.600 tỷ đồng, tương ứng bằng 77,6% lợi nhuận của toàn Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).

Trước đó, tại hội nghị tổng kết năm 2012 và triển khai nhiệm vụ năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông, ông Phạm Long Trận, Chủ tịch VNPT cho biết, lợi nhuận của toàn Tập đoàn VNPT năm 2012 là 8.500 tỷ đồng . Như vậy, có thể hiểu, lợi nhuận của VNPT phần lớn đến từ “công ty con” - Công ty Thông tin di động (VMS) - MobiFone. 

Mức tăng trưởng lợi nhuận của MobiFone năm nay cũng được cho là “khiêm tốn” so với năm ngoái, khi chỉ tăng 5,4%.

Cũng qua mức lợi nhuận của MobiFone, cho thấy, nhiều đơn vị khác của VNPT, đặc biệt là hai công ty thành viên chủ chốt VinaPhone và Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC), có mức lợi nhuận chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng lợi nhuận của tập đoàn, tổng cộng chỉ đóng góp 1.900 tỷ đồng. 

Mức tăng trưởng lợi nhuận của MobiFone năm nay cũng được cho là “khiêm tốn” so với năm ngoái (6.260 tỷ đồng), khi chỉ tăng 5,4%, trong khi MobiFone vẫn được đánh giá là mạng di động làm ăn hiệu quả và có tỷ suất lợi nhuận cao nhất trong số các mạng di động của Việt Nam thời gian qua. 

MobiFone cũng cho biết, doanh thu năm 2012 của mạng di động này đạt 40.800 tỷ đồng, tương ứng bằng 31,2% doanh thu của VNPT (130.500 tỷ đồng).

Theo VnEconomy

Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012

MobiFone: Mạng di động hoạt động hiệu quả nhất

Theo bảng xếp hạng V1000 năm 2012 - top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do Công ty cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) thực hiện, trong tốp 10 doanh nghiệp nộp thuế cao nhất có 3 tới “đại gia” viễn thông, đó là MobiFone, VNPT và Viettel. 

Với tình hình kinh tế đầy khó khăn và bất ổn như hiện nay, các doanh nghiệp V1000 đã chứng tỏ bản lĩnh vượt bão của mình khi tiếp tục kinh doanh có lãi và hoàn thành tốt nghĩa vụ với cộng đồng. 

Trong số các doanh nghiệp viễn thông thì MobiFone ghi ấn tượng bởi doanh nghiệp này chỉ đơn thuần kinh doanh dịch vụ thông tin di động nhưng lại nộp thuế đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng V1000 năm 2012.



Trong nhiều năm qua, MobiFone luôn được đánh giá là mạng di động hoạt động hiệu quả nhất. Tính đến hết năm 2011, năng suất lao động bình quân của nhân viên MobiFone lên tới 6,7 tỷ đồng/người/năm. Năng suất lao động của nhân viên MobiFone cao gấp hơn 5 lần bình quân chung của VNPT và cao hơn khoảng 1,5 lần so với Viettel.

Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng cho biết, MobiFone đang là mạng di động có năng suất bình quân lao động cao nhất trong các doanh nghiệp viễn thông hiện nay. Cũng theo số liệu mới công bố của Bộ Thông tin và Truyền thông, MobiFone đang là mạng có doanh thu bình quân trên mỗi thuê bao cao nhất (khoảng 4-5USD/thuê bao). Con số này của MobiFone cao hơn so với con số của mạng đứng thứ 2 và thứ 3 khoảng từ 1-2 USD/thuê bao. 
 
Trong bối cảnh thị trường di động cạnh tranh gay gắt, để đạt được hiệu quả kinh doanh cao như trên, MobiFone đã đưa ra nhiều chính sách kích cầu nhắm đến nhiều lớp khách hàng để đàm bảo tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Đối với khách hàng bình dân MobiFone đẩy mạnh những gói cước giá rẻ khuyến khích khách hàng sử dụng thêm các dịch vụ giá trị gia tăng, các tiện ích mới. 
 
MobiFone đã "bắt tay" Opera Software để ra gói cước Opera Mini, gói cước data dùng riêng cho trình duyệt Opera Mini trên các thiết bị di động. Theo đó khi sử dụng gói cước này, khách hàng sẽ được lướt web không giới hạn từ trình duyệt Opera Mini thông qua mạng GPRS/EDGE/3G của MobiFone với cước thuê bao siêu rẻ chỉ có 15.000 đồng/tháng. 
 
Đối với khách hàng lớn như các khách hàng doanh nghiệp, MobiFone giảm 50% cước gọi nội nhóm, chiết khấu từ 9-12% hóa đơn cước tháng, tặng cước cho thuê bao đứng tên đại diện (từ 100.000-500.000 đồng)…. MobiFone còn liên tục thực hiện các chương trình chăm sóc, ưu đãi nhằm giữ chân và phát triển thêm nhóm khách hàng này. Dịp cuối năm này, để tri ân khách hàng doanh nghiệp, MobiFone ưu đãi tới 40% giá mua điện thoại Samsung Galaxy S3 hoặc Samsung Galaxy Note, giá trị ưu đãi tương đương tới 6 triệu đồng cho mỗi khách hàng.
 
Hiện nay, MobiFone cũng là một trong những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của MobiFone cũng đạt con số cao nhất khi đạt tới 49,7%. Theo thống kê từ VNPT, MobiFone chỉ chiếm 4% lao động, nhưng chiếm tới 40% doanh thu và hơn 50% lợi nhuận từ tập đoàn này. Bên cạnh các giải pháp phát triển kinh doanh, nhiều phương án tiết kiệm đã được đưa ra thực hiện và nhân rộng trong toàn MobiFone, nhờ vậy mặc dù đứng trước áp lực giảm giá dịch vụ do cạnh tranh, các chi phí đầu vào tăng cùng hệ số CPI, MobiFone vẫn đảm bảo các con số về lợi nhuận và nộp thuế luôn tăng qua các năm./. 

Theo Vietnam+

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

VinaPhone phát hành SIM không có tài khoản đi kèm từ 1/1/2013

VinaPhone thông báo Triển khai Thông tư số 14/2012/TT-BTTTT ngày 12/10/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông về Quy định giá cước dịch vụ Thông tin di động từ 0h00 ngày 01/01/2013. 

Theo đó, VinaPhone điều chỉnh mức cước hòa mạng thuê bao trả sau và áp dụng mức cước hòa mạng cho thuê bao trả trước. Cụ thể đối với thuê bao trả sau: 35.000 đồng/thuê bao/lần hòa mạng; Đối với thuê bao trả trước: 25.000 đồng/thuê bao/lần hòa mạng. Giá cước nêu trên đã bao gồm thuế GTGT và chưa bao gồm giá SIM.Mức cước hòa mạng trả trước áp dụng cho các SIM thuê bao kích hoạt kể từ sau 0h00 ngày 1/1/2013 (bao gồm các bộ hòa mạng di động trả trước, bộ hòa mạng ezCom trả trước thông thường; các bộ hòa mạng di động trả trước, bộ hòa mạng ezCom trả trước kèm thiết bị).

VinaPhone sẽ áp dụng thống nhất một mức giá SIM là 25.000đ/SIM (đã bao gồm thuế GTGT)cho tất cả các loại SIM (64K, 128K, micro SIM, nano SIM…), bao gồm SIM thuê bao trả trước, trả sau hòa mạng mới và SIM thay thế (do chuyển đổi, mất, hỏng…).

Kể từ 1/1/2013, VinaPhone sẽ phát hành ra thị trường bộ SIM thuê bao trả trước mới (bao gồm 1 SIM đã gắn một số thuê bao xác định, không nạp sẵn tiền hoặc lưu lượng miễn phí trong tài khoản) có mệnh giá 50.000 đ/SIM (đã bao gồm thuế GTGT). Mức giá này đã bao gồm giá cước hòa mạng và giá SIM. 

Đối với các bộ SIM thuê bao phát hành ra thị trường trước 1/1/2013 và kích hoạt sau thời điểm 1/1/2013, giá cước hòa mạng sẽ được khấu trừ vào tài khoản chính của thuê bao vào thời điểm kích hoạt. Nếu tài khoản chính nạp sẵn trong bộ SIM thuê bao không đủ để thanh toán cước hòa mạng, khách hàng thực hiện nạp thêm thẻ với số tiền lớn hơn số tiền còn thiếu của cước hòa mạng để sử dụng dịch vụ.

Việc hòa mạng cho thuê bao trả trước chỉ được thực hiện khi khách hàng hoàn thành mua SIM thuê bao, đăng ký thông tin thuê bao và nạp tiền từ thẻ thanh toán vào tài khoản của SIM thuê bao. Thuê bao có thời gian chờ nạp tiền là 10 ngày. Trong thời gian chờ nạp tiền, thuê bao vẫn được nhận cuộc gọi. Nếu thuê bao không thực hiện nạp thẻ trong thời gian chờ nạp tiền sẽ bị khóa 2 chiều và có thời gian giữ số trên mạng là 30 ngày theo quy định của Bộ TT&TT.

Việc hòa mạng cho thuê bao trả sau chỉ được thực hiện sau khi khách hàng hoàn thành ký hợp đồng, thanh toán đầy đủ tiền mua SIM và cước hòa mạng.Giá SIM thuê bao trả sau hòa mạng mới là 60.000 đồng/SIM/lần (đã bao gồm thuế GTGT). Mức giá này đã bao gồm cước hòa mạng trả sau và giá SIM.

Trường hợp chuyển đổi từ thuê bao trả trước sang trả sau: khách hàng phải trả cước hòa mạng trả sau là 35.000đ/SIM/lần (đã bao gồm thuế GTGT) nếu khách hàng vẫn giữ nguyên SIM. Trường hợp khách hàng có nhu cầu thay, nâng cấp SIM..., khách hàng phải trả thêm cước thay, nâng cấp,... SIM theo quy định.

Thu Hồng

Từ 1/1/2013, thu phí hòa mạng thuê bao trả trước

Bộ Thông tin và Truyền thông vừa ban hành Thông tư 14 quy định giá cước dịch vụ di động mặt đất. Theo đó, cước hòa mạng của thuê bao di động trả sau là 35 nghìn đồng, và cước hòa mạng của thuê bao di động trả trước là 25 nghìn đồng. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/1/2013.

Giá cước hòa mạng thu một lần và thanh toán ngay khi khách hàng ký hợp đồng sử dụng dịch vụ thông tin di động trả sau khi khách hàng mua SIM thuê bao sử dụng dịch vụ thông tin di động trả trước.

Theo Thông tư vừa được Bộ TT-TT ban hành các thuê bao di động mới muốn hoạt động được phải đăng ký với các nhà mạng và đóng cước phí hòa mạng. Đây là nét mới nhất trong Thông tư.

Như vậy khi khách hàng hoà mạng mới, sẽ phải trả mức phí bằng mức phí như quy định nói trên cộng với giá SIM trắng mà nhà mạng đưa ra.

Ảnh minh họa.
(Nguồn: Internet)


Bộ Thông tin và Truyền thông yêu cầu các “nhà mạng” không được tăng, giảm giá và khuyến mại đối với giá cước hòa mạng trên. Đồng thời, không được nạp sẵn tiền vào tài khoản đối với tất cả SIM thuê bao đang lưu thông trên thị trường hoặc chưa hòa mạng.

Về thẻ nạp điện thoại, Thông tư quy định chỉ có các nhà mạng mới được phát hành thẻ nạp. Và, nhà mạng phải thông báo các loại thẻ, mệnh giá thẻ cho Bộ TT-TT khi phát hành thẻ thanh toán. Các hãng viễn thông cũng phải kiểm tra, giám sát các đại lý phân phối trong việc bán SIM thuê bao, thẻ nạp tiền.

Thông tư về giá cước thông tin di động, quản lý hàng hóa chuyên dụng thông tin di động chính là biện pháp quản lý về mặt kinh tế nhằm tạo môi trường cho sự phát triển bền vững thuê bao di động.

Theo ktdt.com.vn

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Đầu tư các dự án ứng dụng CNTT theo hình thức đối tác công – tư (PPP): Suy nghĩ từ một số dự án cụ thể

Thực hiện Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015, các dự án “Hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho các cơ quan Chính phủ” (gọi tắt là hệ thống e-Doc) và “Hệ thống thư điện tử quốc gia” (gọi tắt là hệ thống e-Mail) đã được các đơn vị chủ trì tiến hành triển khai. Hình thức đầu tư dự án theo mô hình PPP đã được tính toán và cân nhắc áp dụng, tuy nhiên sự phù hợp và mức độ khả thi đến đâu cần phải được đánh giá một cách cẩn thận,  bài viết này sẽ đi sâu trình bày một số đánh giá như vậy.


Đánh giá sự phù hợp về phạm vi áp dụng hình thức đầu tư đối tác công - tư

Theo quy định tại Điều 1 – Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ (Sau đây goi tắt là Quy chế thí điểm), để một dự án có thể được triển khai áp dụng hình thức đầu tư PPP thì dự án đó phải là dự án phát triển kết cấu hạ tầng và có mục đích cung cấp dịch vụ công.

Tuy nhiên, định nghĩa về dịch vụ công tại Quy chế là chưa rõ ràng. Dẫn đến, các ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ các cơ quan nhà nước nói chung và hệ thống e-Doc và e-Mail nói riêng không phù hợp với mục đích phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công mà chỉ gián tiếp hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ công bởi lẽ các dự án này hướng đến xây dựng, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin như là công cụ để cung cấp dịch vụ công được nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Đánh giá sự phù hợp với các nguyên tắc áp dụng hình thức đầu tư PPP


Nguyên tắc về thu hút nguồn vốn của khu vực tư nhân

Các dự án e-Doc và e-Mail đều đáp ứng được nguyên tắc này bởi lẽ Chính phủ đã xác định rõ định hướng thu hút nguồn vốn của khu vực tư nhân cho các dự án về công nghệ thông tin như đã nêu ở Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 (Việc huy động nguồn vốn doanh nghiệp đáp ứng giải pháp khuyến khích việc huy động các nguồn kinh phí ngoài ngân sách Trung ương (Điểm VI, Mục C, Điều 1, Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015). Bên cạnh đó, việc thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Chính phủ yêu cầu cắt giảm đầu tư công theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hộivà Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ.

Nguyên tắc về vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án

Nguyên tắc này yêu cầu vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án gồm vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, các nguồn vốn thương mại trong nước và quốc tế và các nguồn vốn khác được huy động theo nguyên tắc không dẫn đến nợ công. Đối với các dự áne-Doc và e-Mail, đây là nguyên tắc hoàn toàn có thể được đáp ứng bởi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tại Việt Nam.

Nguyên tắc về vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư

Nguyên tắc này sẽ được đáp ứng nếu nhà đầu tư bảo đảm rằng vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư trong Dự án phải đảm bảo tối thiểu bằng 30% phần vốn của khu vực tư nhân tham gia Dự án. Nguyên tắc này là hoàn toàn khả thi đối với lĩnh vực Công nghệ thông tin.

Thực tế, một điểm cần đặc biệt chú ý trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hầu hết các doanh nghiệp có nhiều nguồn lực và kinh nghiệm đều là các doanh nghiệp nhà nước (được hiểu là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp). Một số doanh nghiệp đã có sẵn hệ thống cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin rộng khắp.Trường hợp các doanh nghiệp này được tham giatriển dự án về công nghệ thông tin, cho phí đểxây dựng và phát triển hệ thống,giá thành dịch vụcó thể được giảm đi đáng kể nhờ việc sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có.

Theo quy định tại Điều 9.2 của Quy chế thí điểm, phần tham gia của Nhà nước vào Dự án PPP không vượt quá 30% tổng vốnđầu tư của Dự án. Tuy nhiên,Quy chế thí điểm không đưa ra khái niệm vốn của khu vực tư nhân tham gia vào dự án. Như vậy, có thể suy luận rằng các doanh nghiệp nhà nước cũng có thể sử dụng các nguồn vốn của mình để đầu tư thực hiện Dự án PPP nếu các nguồn vốn đó không phải là vốn đầu tư phát triển và không dẫn đến nợ công. Do đó, đây là một điểm chưa rõ rà ở Quy chế thí điểm.

Nguyên tắc về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án trên cơ sở cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, phù hợp với pháp luật Việt Nam, theo tập quán và thông lệ quốc tế

Nguyên tắc này hoàn toàn được đáp ứng nếu việc lựa chọn nhà đầu tư được thực hiện theo đúng Quy chế thí điểm và các quy định của pháp luật về đầu tư và đấu thầu có liên quan.

Đánh giá về sự phù hợp với các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP

Các dự án về công nghệ thông tin nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng không nằm trong các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP theo quy định tại Điều 4, Quy chế thí điểm.

Tuy nhiên, khoản 9, Điều 4, Quy chế thí điểm quy định các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP cũng bao gồm các dự án thuộc lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Do đó, để có thể triển khai dự án e-Doc và e-Mail  hình thức PPP theo Quy chế thí điểm, Bộ Thông tin và Truyền thôngcần thiết phải trình Thủ tướng Chính phủ xin phép được triển khai theo Quy chế thí điểm.

Đánh giá về sự phù hợp với các tiêu chí lựa chọn dự án


Tiêu chí về dự án quan trọng, quy mô lớn

Các dự án e-Doc và e-Mailkhông thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 11/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ dự án quan trọng, quy mô lớn, có yêu cầu cấp thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế, trong khi Danh mục này là cơ sở để xác định dự án quan trọng, quy mô lớn theo quy định tại Điều Quy chế thí điểm.

Tiêu chí về khả năng hoàn trả vốn cho nhà đầu tư

Khả năng hoàn trả vốn của các dự áne-Doc và e-Mail phụ thuộc vào quy mô đầu tư và tính chất của loại dịch vụ liên quan cung cấp đến đối tượng là cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức. Việc xác định khả năng hoàn trả vốn sẽ được thực hiện đối với từng dự án cụ thể.

Tiêu chí về khả năng khai thác lợi thế công nghệ, kinh nghiệm quản lý, vận hành

Với những doanh nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ như VNPT, FPT, Vietel, CMC… các dự án công nghệ thông tin nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riênghoàn toàn có thể khai thác được lợi thế về công nghệ, kinh nghiệm quản lý và vận hành của nhiều doanh nghiệp trên. Dễ nhận thấy, doanh nghiệp trên hiện cung cấp hầu hết các dịch vụ công nghệ thông tin không chỉ cho xã hội mà còn cho cả nhiều cơ quan nhà nước.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn có mối quan hệ cộng tác với các doanh nghiệp công nghệ thông tin quốc tế, dẫn đếncác doanh nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam đã dần làm chủ công nghệ vàcó những bước phát triển nổi bật, trong những năm qua.Như vậy, có thể kết luận rằng các dự án công nghệ thông tin nói chungvà dự án e-Doc và e-Mail nói riêng đáp ứng được ít nhất một trong các tiêu chí lựa chọn dự án và thoả mãn điều kiện quy định tại Điều 5, Quy chế thí điểm.

Đánh giá sự phù hợp về thủ tục đầu tư


Thực tiễn triển khai các dự án đầu tư theo hình thức PPP theo Quy chế thí điểm cho thấy chưa có dự án nào hoàn thành các thủ tục đầu tư và đi vào triển khai. Cụ thể, chỉ có dự án đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết mới bước vào triển khai nội dung thực hiệnbáo cáo khả thi, một số dự án còn lại mới dừng lại ở bước nghiên cứu tiền khả thi. Các thủ tục đầu tư theoQuy chế thí điểm còn nhiều bước không thực sự cần thiết và có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án đòi hỏi tiến độ triển khai nhanh như các dự án về công nghệ thông tin, cụ thể:

- Thủ tục đầu tư theo Quy chế thí điểm đòi hỏi các vấn đề liên quan đến cùng một dự án đầu tư phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ít nhất 02 (hai) lần: Phê duyệt Đề xuất dự án; phê duyệt phần tham gia của Nhà nước và cơ chế ưu đãi đầu tư. Kinh nghiệm cho thấy, mỗi lần thực hiện thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có thể kéo dài nhiều tháng;

- Thủ tục đầu tư theo Quy chế thí điểm yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải cho ý kiến ở ít nhất 04 bước: (i) thẩm định Đề xuất Dự án; (ii) thẩm định Phần tham gia của Nhà nước; (iii) cho ý kiến về kết quả lựa chọn Nhà đầu tư; và (iv) thẩm tra Dự án. Việc tham gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào quá nhiều bước khiến thủ tục đầu tư trở nên phức tạp;

- Việc lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với kết quả lựa chọn nhà đầu tư chưa phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư cần chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả lựa chọn này.

- Thủ tục đấu thầu bắt buộc để lựa chọn nhà đầu tư theo Quy chế thí điểm không phải luôn luôn phù hợp. Trong một số trường hợp chỉ có một doanh nghiệp được xác định là đủ điều kiện trở thành nhà đầu tư, cần cho phép thực hiện thủ tục chỉ định nhà đầu tư để tránh các lãng phí về thời gian và kinh phí không cần thiết.

Với các phân tích bên trên có thể nhận thấy:V iệc triển khai các dự án về ứng dụng công nghệ thông tintrong nội bộ cơ quan nhà nước nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng theo hình thức PPP theo quy định tại Quy chế thí điểm là chưa khả thi tại thời điểm hiện tại.

Mặc dù, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo cụ thể về áp dụng hình thức đầu tư hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp cho dự án xây dựng hệ thống e-Doc và e-Mail, tuy nhiên, môi trường pháp lý về hình thức hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp tại Việt Nam là chưa sẵn sàng, do đó, Bộ Thông tin và Truyền thôngcần thiết phải xin cơ chế đặc thù riêng cho lĩnh vực CNTTnói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng để đảm bảo triển khai thành công 02 dự án này theo kế hoạch đặt ra trong Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010.

(Theo Telecom&IT 12/2012)

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

VNPT chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại VietnamPost về Bộ TT & TT

Ngày 19/12/2012, tại Hà Nội, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) và Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) tổ chức Lễ ký Biên bản chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VietnamPost) từ VNPT về Bộ Thông tin và Truyền thông, theo Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là sự kiện chuẩn bị cho thời điểm VietnamPost chính thức tách ra hoạt động độc lập với VNPT từ ngày 1/1/2013 tới đây; đồng thời là bước cuối cùng, khép lại quá trình chia tách Bưu chính - Viễn thông (BC-VT) tại Việt Nam đã được khởi động triển khai từ hơn 10 năm trước.

Việc chia tách BC-VT là nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường và phù hợp với xu thế chung của thế giới. Trên thế giới, quá trình chia tách BC-VT được triển khai từ những năm 1970 và diễn ra mạnh nhất vào cuối những năm 1980, đầu 1990. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, việc chia tách này sẽ tạo điều kiện cho Viễn thông thực hiện tự do hoá thương mại, còn Bưu chính có điều kiện để cải cách, từng bước tiến tới cân bằng thu chi và có lãi. Đến nay, hầu hết các nước thành viên của UPU (189 nước) đã tách riêng BC-VT và chỉ còn khoảng 10%, chủ yếu là những quốc gia nhỏ, nơi quy mô mạng lưới và hoạt động của cả 2 lĩnh vực ở mức nhỏ và vừa là chưa thực hiện việc chia tách này. 

Tại Việt Nam, trên cơ sở nhận thức rõ xu thế phát triển của thế giới và xuất phát từ thực tiễn hoạt động BCVT trong nước, từ năm 1998, Tổng cục Bưu điện đã trình Chính phủ đề án về đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý ngành Bưu điện Việt Nam, trong đó có nội dung tách BC-VT. Tháng 9/2001, VNPT đã khởi động lộ trình chia tách BC-VT bằng việc tiến hành thí điểm chia tách ở cấp huyện tại 10 tỉnh, thành phố. Đến tháng 6/2007, với việc VietnamPost được thành lập, quá trình chia tách BC-VT trên quy mô toàn VNPT và trong phạm vi toàn quốc đã được cụ thể hóa. Từ ngày 1/1/2008, tuy vẫn nằm trong VNPT nhưng VietnamPost đã có pháp nhân riêng, thực hiện tổ chức sản xuất và hạch toán độc lập với khối Viễn thông.

Trải qua 5 năm, tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ bưu chính và tài chính bưu chính trong tổng doanh thu phát sinh và doanh thu tính lương ngày càng lớn, giảm dần sự lệ thuộc vào nguồn thu từ dịch vụ đại lý VT-CNTT và trợ cấp công ích của Nhà nước. 

Để có được những kết quả đó, phải kể đến vai trò, trách nhiệm và những nỗ lực lớn của VNPT trong quá trình chuẩn bị các điều kiện để VietnamPost từng bước trưởng thành và có thể tách ra hoạt động độc lập hoàn toàn. Dự đoán được tính phức tạp và mức độ quan trọng của việc chia tách BCVT, VNPT đã có những bước chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Với cơ chế quản lý tập trung, VNPT đã tập hợp được các nguồn lực, tạo điều kiện hỗ trợ để khối Bưu chính phát triển mạng bưu cục, điểm phục vụ, mạng khai thác, vận chuyển… đảm bảo cho Bưu chính vừa làm tốt nhiệm vụ công ích vừa phát triển kinh doanh các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng doanh thu. Điều này đặc biệt quan trọng khi khối Bưu chính chưa tự cân bằng thu chi, các dịch vụ truyền thống phát triển chậm, phần lớn các dịch vụ mới đang trong giai đoạn đầu phát triển. Đặc biệt, về cơ sở vật chất và nguồn vốn, VietnamPost đã được ưu tiên kế thừa cơ sở vật chất, các nguồn lực, các hoạt động hiện có của VNPT trong lĩnh vực Bưu chính như hệ thống bưu cục; ki ốt; đại lý; điểm BĐ-VH xã; phương tiện vận chuyển... và đặc biệt là được ưu tiên nhận mặt bằng giao dịch thuận lợi. Với sự hỗ trợ của VNPT, hoạt động kinh doanh của VietnamPost đã có những bước phát triển mạnh, là tiền đề để tạo đà cho các giai đoạn phát triển tiếp theo. 

Qua hơn 10 năm khởi động lộ trình chia tách BC-VT và gần 5 năm thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam, đến thời điểm này, các điều kiện cần thiết để VietnamPost tách ra hoạt động độc lập hoàn toàn đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ, và việc triển khai hoàn tất lộ trình chia tách BC-VT là phù hợp. Đến thời điểm hiện tại, VietnamPost đã nhận bàn giao đủ tổng số 8.122 tỷ đồng vốn điều lệ. Đã có trên 50 Bưu điện và Viễn thông địa phương thống nhất được phương án phân chia tài sản nhà đất, trong đó có 43 địa phương đã trình và được Hội đồng thành viên VNPT ra quyết định phân chia nhà cửa, đất đai. Hiện nay, VNPT và VietnamPost vẫn đang tiếp tục khẩn trương hoàn tất các thủ tục phân chia và bàn giao phân chia nhà đất tại các địa phương. 

Việc tách VietnamPost hoạt động độc lập với VNPT là xu thế tất yếu, tạo điều kiện thuận lợi để cả VNPT và VietnamPost cùng đổi mới, phát triển mạnh mẽ hơn. Với VNPT, đây sẽ là một trong những bước đi quan trọng trong lộ trình tái cấu trúc, sắp xếp lại hệ thống kinh doanh của Tập đoàn. Còn với VietnamPost, đây sẽ là động lực để toàn ngành Bưu chính tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và phát triển bền vững.

Cùng với việc tách khỏi VNPT, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam có tên gọi mới là Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (tên viết tắt tiếng Việt là “Bưu điện Việt Nam”, tiếng Anh là “VietnamPost”), hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên không có Hội đồng thành viên, áp dụng mô hình Chủ tịch Công ty và Ban Tổng Giám đốc với chủ sở hữu trực tiếp là Bộ TT&TT. 

Năm 2013, năm đầu tiên tách ra hoạt động độc lập hoàn toàn với VNPT cũng sẽ là năm cuối cùng VietnamPost được nhận trợ cấp công ích trực tiếp bằng tiền của Nhà nước. Đây sẽ là những khó khăn thách thức trước mắt đối với VietnamPost. Tuy nhiên, Vietnam Post vẫn đặt mục tiêu tổng lợi nhuận toàn Tổng công ty là 45,5 tỷ đồng, tăng 7% so với dự kiến thực hiện năm nay. Trong đó, lợi nhuận Công ty mẹ - Bưu chính Việt Nam phấn đấu đạt 32,5 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2012 và lợi nhuận các công ty con đạt 13 tỷ đồng, tăng 14%.

VietnamPost cũng đã cơ bản hoàn thành xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, dự kiến các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận và năng suất lao động của VietnamPost qua các năm sẽ liên tục tăng cao, trong đó mức tăng trưởng doanh thu bình quân là 14%; lợi nhuận tăng trưởng bình quân 52% và năng suất lao động tăng khoảng 16%.  

Trải qua hơn 67 năm xây dựng, trưởng thành cùng với Viễn thông từ cội rễ là ngành Bưu điện, với bề dày truyền thống và 10 chữ vàng “Trung thành – Dũng cảm – Tận tụy – Sáng tạo – Nghĩa tình”, Bưu chính Việt Nam hôm nay sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và phát huy truyền thống ấy để bước vào giai đoạn phát triển mới. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (VietnamPost) tin tưởng rằng hai doanh nghiệp sẽ tiếp tục có sự gắn bó, hợp tác cùng phát triển vì sự phát triển chung của Ngành Thông tin – Truyền thông Việt Nam và của đất nước.

PV
Girls Generation - Korean