Hiển thị các bài đăng có nhãn dự án. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dự án. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

VNPT từ chối khoản vay ưu đãi hơn 100 triệu USD cho VINASAT

VNPT vừa tiết lộ đã từ chối khoản vay ưu đãi hơn 100 triệu USD cho dự án phóng vệ tinh VINASAT-2. Nguyên nhân VNPT từ chối khoản vay ưu đãi này chưa được tiết lộ.

Ảnh

Một lãnh đạo Tập đoàn VNPT vừa tiết lộ rằng, VNPT đã từ chối khoản vay ưu đãi hơn 100 triệu USD cho dự án phóng vệ tinh VINASAT-2. Trong năm 2012, VNPT đã thu xếp nguồn vốn bù đắp vào sự thiếu hụt khi từ chối khoản vay ưu đãi đó.

Dù không tiết lộ khoản vay từ nguồn nào, nhưng căn cứ tình hình trước đó, một số nguồn tin của ICTnews cho rằng, đó là khoản vay từ Ngân hàng Eximbank (Mỹ) đối với dự án VINASAT-2.

Trước đó, 25/6/2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã phê chuẩn đề xuất của Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Mỹ (Eximbank) mở gói cho vay 125,9 triệu USD cho VNPT. Kế hoạch này sẽ phải trình lên Quốc hội Mỹ xem xét trong 35 ngày trước khi được hội đồng quản trị của Eximbank thông qua. Ngày 5/10/2012, Ngân hàng Eximbank thông báo chấp thuận cho Chính phủ Việt Nam vay trực tiếp 118 triệu USD để mua vệ tinh của Lockheed Martin và các hàng hóa, dịch vụ đi kèm.

Vệ tinh VINASAT-2 được Lockheed Martin (công ty của Mỹ) sản xuất và đã được phóng thành công lên quỹ đạo ngày 16/5/2012. VINASAT-2 được đầu tư từ 260 - 280 triệu USD, trong đó, 20% là vốn của VNPT, 20% là vốn vay Ngân hàng Phát triển, còn lại 60% phải thương mại. Lãnh đạo VNPT cũng thừa nhận việc vay vốn thương mại đến 60% thực sự buộc VNPT phải tính toán rất nhiều để đảm bảo hiệu quả kinh doanh của VINASAT-2.

Theo ICTNews

Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

Một ngày làm việc của kỹ sư Google Maps

Là người chuyên xử lý những phản hồi của người dùng Google Maps, Nick Volmar thường nhận 10.000 báo cáo mỗi ngày, thậm chí gấp nhiều lần trong những ngày lễ.

Khi người dùng gửi phản hồi về một vấn đề nào đó trên ứng dụng Google Maps, chẳng hạn như một con phố sai tên, đường một chiều không đúng hướng, Nick Volmar và các cộng sự của anh chính là người giải quyết những vấn đề nói trên.

Volmar là giám đốc chương trình của nhóm Google Ground Truth – một phần quan trọng của Google trong việc tạo ra ứng dụng Google Maps chính xác và hoàn thiện bậc nhất thế giới như hiện nay.

Nick Volmar.

Để xây dựng ứng dụng Google Maps, Google không chỉ dựa vào hình ảnh vệ tinh, dữ liệu từ các bên thứ 3, hình ảnh chụp từ đội ngũ Street View mà còn nhờ vào hàng nghìn những phản hồi từ phía người dùng.

Dưới đây là một bài phỏng vấn với Nick Volmar, được thực hiện bởi biên tập viên trang Huffington Post.

- Công việc chính của anh là gì?

- Nhiệm vụ của tôi là làm việc với những vấn đề về Google Maps, được báo cáo lại từ người dùng bên ngoài, phân tích những thứ họ yêu cầu sau đó cố gắng cải tiến dịch vụ bản đồ từ những nguồn mà chúng tôi có.

- Anh thường nhận được những phản hồi dạng nào?

- Người dùng thường gửi những thứ chưa có trong bản đồ trước đó. Những phản hồi phổ biến nhất chúng tôi thường nhận được sẽ có dạng “Tôi sống ở…, có một cái cầu vượt đã được xây ở đó” hoặc “một con đường mới vừa được hoàn thành”.

- Anh có thể xử lý bao nhiêu phản hồi mỗi ngày?

- Sẽ là từ 10 đến hàng trăm phản hồi mỗi ngày. Thông thường, chúng tôi sẽ sử dụng dữ liệu hình ảnh của nhóm Street View để giải quyết vấn đề. Họ biết rất nhiều con đường và những thứ khác, những thứ không hề có trên hình ảnh vệ tinh.

- Các lỗi sai sẽ được sửa bằng tay hay các thuật toán?

- Công việc của chúng tôi liên quan rất nhiều đến các hoạt động cập nhật thủ công. Chúng tôi vẫn chưa phát triển được các cỗ máy thông minh đến mức xác định được chính xác yêu cầu từ người dùng và làm thế nào để giải quyết nó.

Ứng dụng Google Maps trên iPhone.

- Đã khi nào anh phải cử một ai đó trực tiếp ra để điều tra khu vực nhằm giải quyết phản hồi của người dùng chưa?

- Nếu có một ai đó báo lại về một tòa nhà mới xây trong thị trấn nhưng chúng tôi vẫn chưa kịp có dữ liệu, chúng tôi có thể yêu cầu nhóm Street View đến và xác nhận thông tin.

- Mỗi ngày nhóm của anh nhận bao nhiêu phản hồi?

- Khoảng 10.000 mỗi ngày. Trong những dịp lễ tết khi mọi người đi lại nhiều hơn, con số đó sẽ tăng lên bởi người ta thường dùng Google Maps để tìm kiếm những địa điểm không quen thuộc.

- Mất khoảng bao lâu để nhóm của anh gửi phản hồi lại sau khi người dùng báo cáo?

- Điều này tùy thuộc vào vấn đề được báo cáo. Tuy nhiên, thông thường những cập nhật mới sẽ được đưa lên Google Maps chỉ sau vài phút. Chúng tôi có người tại nhiều nơi khác nhau để đánh giá và cập nhật những thông tin mới nhằm đảm bảo chất lượng cho ứng dụng Google Maps.

- Phản hồi nào lạ nhất anh nhận được từ phía người dùng?

- Thường thì vẫn có một số những điều hài hước khi dùng Google Maps. Chẳng hạn như khi bạn tìm kiếm đường đi từ San Francisco tới Tokyo, một trong số những gợi ý được đưa ra sẽ có đoạn “đi bằng tàu qua Thái Bình Dương”. Một người dùng gửi báo cáo lại cho chúng tôi nói rằng, đi tàu không phải là cách thức tối ưu, thay vào đó, Google Maps nên hướng dẫn đường đi bằng máy bay.

Đức Nam

Theo Infonet

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Viễn thông đã sẵn sàng cho kỉ nguyên băng rộng

Việc phát triển hạ tầng băng rộng hữu tuyến và vô tuyến băng rộng của Việt Nam có thể đạt và vượt trước thời gian mà Dự án phát triển CNTT - TT đặt ra đến năm 2020. Có thể nói, hạ tầng viễn thông đã sẵn sàng làm bệ phóng cho CNTT - TT tăng tốc.

Ảnh

Băng rộng cố định vẫn nhiều thách thức

Phát biểu tại Hội nghị “Triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về phát triển hạ tầng thông tin” do Bộ TT&TT tổ chức ngày 15/1/2013, bà Lê Thị Ngọc Mơ, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông cho biết: Việt Nam đã có quy hoạch phát triển băng rộng đến năm 2020. Tốc độ phát triển băng rộng thời gian qua tương đối tốt. Thế nhưng, trong các mục tiêu của Việt Nam đưa ra thì phần phát triển băng rộng cố định đang được xem là phần "xương" nhất.

Theo bà Mơ, phát triển băng rộng cố định là thách thức của ngành viễn thông vì 2 năm qua thuê bao băng rộng cố định đang phát triển chậm lại, song mục tiêu đòi hỏi thuê bao băng rộng cố định phải tăng lên. Hiện nay, mạng điện thoại cố định được xem là hạ tầng băng rộng tốt nhất và VNPT đang chiếm tới 90% thị phần dịch vụ. Thế nhưng, điều đáng buồn là dịch vụ này đang giảm rất mạnh (khoảng 25%/năm). Ở thời điểm cực thịnh, VNPT có 13 triệu thuê bao nhưng hiện nay chỉ còn 6,5 triệu thuê bao. Với xu hướng di động đang phát triển mạnh như hiện nay thì con số thuê bao này vẫn sẽ giảm mạnh trong thời gian tới.

Trong khi thuê bao cố định sụt giảm mạnh thì mục tiêu đặt ra đến năm 2020 con số thuê bao sử dụng băng rộng cố định của Việt Nam phải gấp 5 lần hiện nay. Đây thực sự là thách thức lớn đối với việc phát triển băng rộng cố định. Bà Mơ cho rằng, ngoài các chỉ tiêu về thuê bao thì tốc độ kết nối cũng là vấn đề đặt ra. Với Internet băng rộng của Việt Nam thì ADSL chiếm đến 80% nhưng công nghệ này có tốc độ thấp, đơn vị tính băng rộng là Kbps. Trong khi đó, thước đo tốc độ băng rộng ở các nước phát triển phải là Mbps và cao hơn là Gbps mới đáp ứng được yêu cầu sử dụng.

Việt Nam đặt mục tiêu từ năm 2015 đến 2020 (đến 2015 sẽ là 90% số xã) sẽ đưa băng rộng đến 10% số xã còn lại. Con số tuy nhỏ nhưng lại là thách thức rất lớn bởi đây là những vùng xa xôi, khó khăn và rất cần sự đầu tư của nhà nước.

Bà Mơ nhận định, việc thúc đẩy mạng truy cập băng rộng hữu tuyến có chất lượng ổn định, an toàn an ninh cao là chiến lược của quốc gia. Vì vậy, sắp tới Bộ TT&TT sẽ có chính sách phát triển như giá cước, dịch vụ đối với mạng điện thoại cố định, chính sách phát triển mạng cáp tốc độ cao (FTTH) và khuyến khích phát triển đa dịch vụ trên một đường truyền (cable TV…).

"Giải pháp vô cùng quan trọng là dùng Quỹ Viễn thông công ích (VTCI) làm nguồn tài chính quý giá đối với việc phát triển hạ tầng viễn thông. Dự kiến từ năm 2013 đến năm 2020, quỹ này sẽ có khoảng 10.000 tỉ đồng. Bộ TT&TT đang nghiên cứu trình Chính phủ chương trình VTCI chủ yếu hỗ trợ hạ tầng và ưu tiên phát triển các điểm truy nhập Internet công cộng. Dự thảo về chương trình VTCI được Bộ TT&&TT dự kiến trình Chính phủ vào tháng 6/2013", bà Mơ nói.

Băng rộng di động sẽ chiếm ưu thế

Phát biểu tại Hội nghị, ông Đoàn Quang Hoan, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện cho biết, băng rộng di động trở nên phổ biến vì đây là một trong những hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế tri thức. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, nếu có thêm 10% dân số sử dụng băng rộng sẽ thúc đẩy 1,21% GDP của các nước phát triển và 1,38% ở các nước đang phát triển. Xu hướng dữ liệu băng rộng di động đang phát triển mạnh, thậm chí cao hơn cả dự báo của Liên minh Viễn thông thế giới.

"Trong tương lai gần, băng rộng di động chủ yếu là giao tiếp video nên đòi hỏi hạ tầng băng rộng rất lớn, số thuê bao 2G sẽ chậm lại và 3G phát triển mạnh. Công nghệ HSPA vẫn là công nghệ tiềm năng nhất tính đến thời điểm trước năm 2020 nên không thể đánh giá thấp hạ tầng 3G mà các mạng di động Việt Nam đang phát triển", ông Đoàn Quang Hoan nói.

Theo ông Hoan, Việt Nam có hạ tầng vô tuyến rộng chất lượng tốt và thuộc hàng tiên tiến trên thế giới. Thuê bao 2G và 3G của Việt Nam vẫn phát triển tốt trong thời gian qua. Tuy nhiên, hình ảnh này không lạc quan lắm vì dữ liệu trên mạng 3G này vẫn còn khiêm tốn. Năm 2013 sẽ giảm mạnh số thuê bao 2G và là năm phát triển của 3G. Nhưng 3G chỉ ở tốc độ cao chứ không bùng nổ và Việt Nam vẫn chỉ ở trong giai đoạn đầu của băng rộng di động.

Ông Hoan cho rằng, phát triển băng rộng di động Việt Nam có tiềm năng nhưng bị hạn chế về sức mua. Theo đó, thói quen sử dụng của người Việt Nam không phù hợp với sự phát triển di động băng rộng khi mà hạ tầng giao thông (ở những nước tiên tiến, phương tiện công cộng chiếm ưu thế nên người dùng dễ dàng sử dụng các dịch vụ di động băng rộng còn ở Việt Nam chủ yếu là phương tiện cá nhân - PV) không thúc đẩy phát triển di động băng rộng và chủ yếu dùng băng rộng di động ở thời điểm cố định. Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách phát triển dữ liệu di động trong tương lai.

Ông Đoàn Quang Hoan khẳng định, Bộ TT&TT đã hoàn thành quy hoạch tần số băng rộng di động cho tương lai sẵn sàng cho đến năm 2020. Đây sẽ là định hướng tốt cho Việt Nam tiến vào kỉ nguyên băng rộng di động.

Mục tiêu băng rộng đến năm 2015:
- Băng rộng cố định : 6 - 8 thuê bao/100 dân
- Băng rộng di động : 20 - 25 thuê bao/100 dân
- Hộ gia đình có truy cập Internet: 15 - 20%
- 90% xã có điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng kết nối băng rộng.
Mục tiêu băng rộng đến năm 2020:
- Băng rộng cố định : 15 - 20 thuê bao/100 dân
- Băng rộng di động : 35 - 40 thuê bao/100 dân
- Hộ gia đình có truy cập Internet: 35 - 40%
- 100% xã có điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng kết nối băng rộng.

Theo ICTNews

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Đầu tư các dự án ứng dụng CNTT theo hình thức đối tác công – tư (PPP): Suy nghĩ từ một số dự án cụ thể

Thực hiện Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015, các dự án “Hệ thống thông tin quản lý văn bản tích hợp trong toàn quốc cho các cơ quan Chính phủ” (gọi tắt là hệ thống e-Doc) và “Hệ thống thư điện tử quốc gia” (gọi tắt là hệ thống e-Mail) đã được các đơn vị chủ trì tiến hành triển khai. Hình thức đầu tư dự án theo mô hình PPP đã được tính toán và cân nhắc áp dụng, tuy nhiên sự phù hợp và mức độ khả thi đến đâu cần phải được đánh giá một cách cẩn thận,  bài viết này sẽ đi sâu trình bày một số đánh giá như vậy.


Đánh giá sự phù hợp về phạm vi áp dụng hình thức đầu tư đối tác công - tư

Theo quy định tại Điều 1 – Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) ban hành kèm theo Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ (Sau đây goi tắt là Quy chế thí điểm), để một dự án có thể được triển khai áp dụng hình thức đầu tư PPP thì dự án đó phải là dự án phát triển kết cấu hạ tầng và có mục đích cung cấp dịch vụ công.

Tuy nhiên, định nghĩa về dịch vụ công tại Quy chế là chưa rõ ràng. Dẫn đến, các ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ các cơ quan nhà nước nói chung và hệ thống e-Doc và e-Mail nói riêng không phù hợp với mục đích phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công mà chỉ gián tiếp hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ công bởi lẽ các dự án này hướng đến xây dựng, phát triển các ứng dụng công nghệ thông tin như là công cụ để cung cấp dịch vụ công được nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Đánh giá sự phù hợp với các nguyên tắc áp dụng hình thức đầu tư PPP


Nguyên tắc về thu hút nguồn vốn của khu vực tư nhân

Các dự án e-Doc và e-Mail đều đáp ứng được nguyên tắc này bởi lẽ Chính phủ đã xác định rõ định hướng thu hút nguồn vốn của khu vực tư nhân cho các dự án về công nghệ thông tin như đã nêu ở Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015 (Việc huy động nguồn vốn doanh nghiệp đáp ứng giải pháp khuyến khích việc huy động các nguồn kinh phí ngoài ngân sách Trung ương (Điểm VI, Mục C, Điều 1, Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015). Bên cạnh đó, việc thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh Chính phủ yêu cầu cắt giảm đầu tư công theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh xã hộivà Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ.

Nguyên tắc về vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án

Nguyên tắc này yêu cầu vốn của khu vực tư nhân tham gia dự án gồm vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, các nguồn vốn thương mại trong nước và quốc tế và các nguồn vốn khác được huy động theo nguyên tắc không dẫn đến nợ công. Đối với các dự áne-Doc và e-Mail, đây là nguyên tắc hoàn toàn có thể được đáp ứng bởi các nhà đầu tư trong và ngoài nước tại Việt Nam.

Nguyên tắc về vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư

Nguyên tắc này sẽ được đáp ứng nếu nhà đầu tư bảo đảm rằng vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư trong Dự án phải đảm bảo tối thiểu bằng 30% phần vốn của khu vực tư nhân tham gia Dự án. Nguyên tắc này là hoàn toàn khả thi đối với lĩnh vực Công nghệ thông tin.

Thực tế, một điểm cần đặc biệt chú ý trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hầu hết các doanh nghiệp có nhiều nguồn lực và kinh nghiệm đều là các doanh nghiệp nhà nước (được hiểu là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp). Một số doanh nghiệp đã có sẵn hệ thống cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin rộng khắp.Trường hợp các doanh nghiệp này được tham giatriển dự án về công nghệ thông tin, cho phí đểxây dựng và phát triển hệ thống,giá thành dịch vụcó thể được giảm đi đáng kể nhờ việc sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có.

Theo quy định tại Điều 9.2 của Quy chế thí điểm, phần tham gia của Nhà nước vào Dự án PPP không vượt quá 30% tổng vốnđầu tư của Dự án. Tuy nhiên,Quy chế thí điểm không đưa ra khái niệm vốn của khu vực tư nhân tham gia vào dự án. Như vậy, có thể suy luận rằng các doanh nghiệp nhà nước cũng có thể sử dụng các nguồn vốn của mình để đầu tư thực hiện Dự án PPP nếu các nguồn vốn đó không phải là vốn đầu tư phát triển và không dẫn đến nợ công. Do đó, đây là một điểm chưa rõ rà ở Quy chế thí điểm.

Nguyên tắc về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện Dự án trên cơ sở cạnh tranh, công bằng, minh bạch, hiệu quả kinh tế, phù hợp với pháp luật Việt Nam, theo tập quán và thông lệ quốc tế

Nguyên tắc này hoàn toàn được đáp ứng nếu việc lựa chọn nhà đầu tư được thực hiện theo đúng Quy chế thí điểm và các quy định của pháp luật về đầu tư và đấu thầu có liên quan.

Đánh giá về sự phù hợp với các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP

Các dự án về công nghệ thông tin nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng không nằm trong các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP theo quy định tại Điều 4, Quy chế thí điểm.

Tuy nhiên, khoản 9, Điều 4, Quy chế thí điểm quy định các lĩnh vực thí điểm đầu tư theo hình thức PPP cũng bao gồm các dự án thuộc lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Do đó, để có thể triển khai dự án e-Doc và e-Mail  hình thức PPP theo Quy chế thí điểm, Bộ Thông tin và Truyền thôngcần thiết phải trình Thủ tướng Chính phủ xin phép được triển khai theo Quy chế thí điểm.

Đánh giá về sự phù hợp với các tiêu chí lựa chọn dự án


Tiêu chí về dự án quan trọng, quy mô lớn

Các dự án e-Doc và e-Mailkhông thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 11/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ dự án quan trọng, quy mô lớn, có yêu cầu cấp thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế, trong khi Danh mục này là cơ sở để xác định dự án quan trọng, quy mô lớn theo quy định tại Điều Quy chế thí điểm.

Tiêu chí về khả năng hoàn trả vốn cho nhà đầu tư

Khả năng hoàn trả vốn của các dự áne-Doc và e-Mail phụ thuộc vào quy mô đầu tư và tính chất của loại dịch vụ liên quan cung cấp đến đối tượng là cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức. Việc xác định khả năng hoàn trả vốn sẽ được thực hiện đối với từng dự án cụ thể.

Tiêu chí về khả năng khai thác lợi thế công nghệ, kinh nghiệm quản lý, vận hành

Với những doanh nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ như VNPT, FPT, Vietel, CMC… các dự án công nghệ thông tin nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riênghoàn toàn có thể khai thác được lợi thế về công nghệ, kinh nghiệm quản lý và vận hành của nhiều doanh nghiệp trên. Dễ nhận thấy, doanh nghiệp trên hiện cung cấp hầu hết các dịch vụ công nghệ thông tin không chỉ cho xã hội mà còn cho cả nhiều cơ quan nhà nước.Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này còn có mối quan hệ cộng tác với các doanh nghiệp công nghệ thông tin quốc tế, dẫn đếncác doanh nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam đã dần làm chủ công nghệ vàcó những bước phát triển nổi bật, trong những năm qua.Như vậy, có thể kết luận rằng các dự án công nghệ thông tin nói chungvà dự án e-Doc và e-Mail nói riêng đáp ứng được ít nhất một trong các tiêu chí lựa chọn dự án và thoả mãn điều kiện quy định tại Điều 5, Quy chế thí điểm.

Đánh giá sự phù hợp về thủ tục đầu tư


Thực tiễn triển khai các dự án đầu tư theo hình thức PPP theo Quy chế thí điểm cho thấy chưa có dự án nào hoàn thành các thủ tục đầu tư và đi vào triển khai. Cụ thể, chỉ có dự án đường cao tốc Dầu Giây – Phan Thiết mới bước vào triển khai nội dung thực hiệnbáo cáo khả thi, một số dự án còn lại mới dừng lại ở bước nghiên cứu tiền khả thi. Các thủ tục đầu tư theoQuy chế thí điểm còn nhiều bước không thực sự cần thiết và có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ triển khai các dự án, đặc biệt là các dự án đòi hỏi tiến độ triển khai nhanh như các dự án về công nghệ thông tin, cụ thể:

- Thủ tục đầu tư theo Quy chế thí điểm đòi hỏi các vấn đề liên quan đến cùng một dự án đầu tư phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ít nhất 02 (hai) lần: Phê duyệt Đề xuất dự án; phê duyệt phần tham gia của Nhà nước và cơ chế ưu đãi đầu tư. Kinh nghiệm cho thấy, mỗi lần thực hiện thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có thể kéo dài nhiều tháng;

- Thủ tục đầu tư theo Quy chế thí điểm yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải cho ý kiến ở ít nhất 04 bước: (i) thẩm định Đề xuất Dự án; (ii) thẩm định Phần tham gia của Nhà nước; (iii) cho ý kiến về kết quả lựa chọn Nhà đầu tư; và (iv) thẩm tra Dự án. Việc tham gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào quá nhiều bước khiến thủ tục đầu tư trở nên phức tạp;

- Việc lấy ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đối với kết quả lựa chọn nhà đầu tư chưa phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư cần chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả lựa chọn này.

- Thủ tục đấu thầu bắt buộc để lựa chọn nhà đầu tư theo Quy chế thí điểm không phải luôn luôn phù hợp. Trong một số trường hợp chỉ có một doanh nghiệp được xác định là đủ điều kiện trở thành nhà đầu tư, cần cho phép thực hiện thủ tục chỉ định nhà đầu tư để tránh các lãng phí về thời gian và kinh phí không cần thiết.

Với các phân tích bên trên có thể nhận thấy:V iệc triển khai các dự án về ứng dụng công nghệ thông tintrong nội bộ cơ quan nhà nước nói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng theo hình thức PPP theo quy định tại Quy chế thí điểm là chưa khả thi tại thời điểm hiện tại.

Mặc dù, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo cụ thể về áp dụng hình thức đầu tư hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp cho dự án xây dựng hệ thống e-Doc và e-Mail, tuy nhiên, môi trường pháp lý về hình thức hợp tác Nhà nước – Doanh nghiệp tại Việt Nam là chưa sẵn sàng, do đó, Bộ Thông tin và Truyền thôngcần thiết phải xin cơ chế đặc thù riêng cho lĩnh vực CNTTnói chung và dự án e-Doc và e-Mail nói riêng để đảm bảo triển khai thành công 02 dự án này theo kế hoạch đặt ra trong Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010.

(Theo Telecom&IT 12/2012)

Triển khai các dự án CNTT theo mô hình PPP: Cơ hội và thách thức

Từ trước tới nay, ở nước ta, hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp phổ biến theo mô hình BOT, BT …  trong đó thông thường các DNNN được chỉ định trên cơ sở đàm phán mà không phải thông qua đấu thầu cạnh tranh.  Trong nhiều trường hợp   các DN này còn chưa hoàn thiện nghiên cứu khả thi, vẫn trong giai đoạn huy động các nguồn lực cần thiết cho dự án, thậm chí còn dựa vào bão lãnh của Chính phủ để huy động vốn. Xu thế hiện nay, những mô hình đầu tư này không còn được ưa chuộng, thậm chí bị coi là mô hình cũ, vì bộc lộ nhiều bất cập cần mô hình tốt hơn thay thế.


Hình thức hợp tác công tư (PPP) đang là một lựa chọn tiềm năng cho các dự án phát triển kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công. Hình thức PPP là việc nhà nước và tư nhân cùng thực hiện dự án trên cơ sở hợp đồng, theo đó tư nhân được phép khai thác công trình, cung cấp dịch vụ công, kinh doanh thu hồi vốn. Hợp đồng này là linh hồn của dự án, thường kéo dài từ 25 năm hoặc  hơn và thường có giá trị hợp đồng lớn. Khác với các dự án đầu tư theo hình thức BOT, BT… , ở mô hình PPP nhà nước sẽ đặt đầu bài kèm theo các thông số chi tiết của dự án, chuẩn bị môi trường đầu tư và tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thích hợp.

Mô hình PPP được cho là sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư công, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DN nội địa và xa hơn là góp phần phát triển KT-XH nói nhờ tăng cơ hội tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản. CNTT-TT đang được coi là hạ tầng của hạ tầng, thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội, do đó các dự án CNTT chắc chắn sẽ không thể nằm ngoài xu thế này, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên, đâu là cơ hội và đâu là thách thức khi triển khai các dự án CNTT theo mô hình mới mẻ này ở Việt Nam.

Cơ hội của mô hình hợp tác công – tư áp dụng cho các dự án CNTT


Cơ hội đầu tư các dự án CNTT theo mô hình hợp tác công –tư xuất phát chính từ lợi ích của phương thức đầu tư này đối với cả khu vực nhà nước và tư nhân. Nói chung, lợi ích khi triển khai các dự án CNTT theo mô hình PPP không nằm ngoài các lợi ích chung như đối với các dự án trong các lĩnh vực khác.

Đối với khu vực nhà nước, mô hình đầu tư PPP là một giải pháp cho khoản vốn còn thiếu hụt giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn sẵn có, huy động các nguồn vốn trên thị trường, giảm nợ công, buộc khu vực công ngay từ đầu phải chú trọng đến hiệu quả đầu ra và lợi ích đạt được. Mô hình PPP tận dụng được những kỹ năng, công nghệ hiện đại và tính hiệu quả của khu vực tư nhân, chia sẻ rủi ro giữa những đối tác.

Đối với khu vực tư nhân, dựa vào quy trình lựa chọn nghiêm ngặt trên cơ sở các tiêu chuẩn cơ bản và nghiên cứu khả thi, PPP có khả năng giảm thiểu rủi ro đối với các nhà đầu tư tư nhân, đặc biệt trong giai đoạn đầu của dự án. Điều này sẽ sàng lọc được các dự án để lựa chọn được các dự án có chất lượng cao. Hơn nữa, dự án PPP còn tận dụng được sự hỗ trợ của Chính phủ trong các thủ tục đấu thầu, chuẩn bị chi tiết dự án, định hình khả năng vay vốn. Theo quy chế thí điểm hiện hành thì nhà nước còn có chính sách ưu đãi, thuế, điều kiện đầu tư, thậm chí kể cả lập báo cáo nghiên cứu khả thi, hợp đồng dự án. Kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước cho thấy khuôn khổ PPP có khả năng trở thành một gạch nối liên kết những thiếu hụt giữa nhu cầu cần thiết của Việt Nam về đầu tư cơ sở hạ tầng và hoạt động cấp vốn, sự đổi mới và tính hiệu quả mà các nhà đầu tư tư nhân có thể mang lại.

Cơ hội phát triển đầu tư theo mô hình PPP nói chung còn thể hiện ở sự quyết tâm của Chính phủ thông qua Quyết định 71/2010/QĐ-TTg ngày 9/11/2010 ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức PPP và việc thành lập Ban chỉ đạo cấp Chính phủ về PPP do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đứng đầu, thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan. Trong lĩnh vực CNTT, nhà nước khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát triển và ứng dụng CNTT trong đời sống xã hội, cơ quan nhà nước, điều này đã được đề cập trong Đề án sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT ban hành kèm theo Quyết định 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Hơn nữa, triển khai Quyết định 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015, tại các cơ quan nhà nước, ứng dụng CNTT hiện đang được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất làm việc của cán bộ, công chức. Từ góc độ của các đơn vị chuyên trách về CNTT trong khối các cơ quan nhà nước, trách nhiệm vì thế trở nên ngày càng nặng, khối  lượng công việc tăng cao. Tuy nhiên, vấn đề về chỉ tiêu biên chế, kinh phí dành cho CNTT cũng như tiền lương của khu vực này hiện tại không theo kịp với yêu cầu thực tế dẫn đến hiệu quả công việc không cao, chất lượng hạn chế. Ngoài ra, trong bối cảnh nhà nước chủ trương đẩy mạnh thắt chặt chi tiêu công, tinh giảm biên chế  và thu gọn bộ máy thì áp lực tìm mô hình mới đáp ứng đòi hỏi đặt ra là rất lớn và cấp thiết. Một giải pháp hiện đang rất được quan tâm chính là cơ chế thuê ngoài, trong đó cơ quan nhà nước sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp do các tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài cung cấp nhằm tăng cường hiệu quả ứng dụng CNTT, tránh lãng phí khi phải đầu tư vào những hệ thống tốn kém mà hiệu quả sử dụng không được cao. Đây chính là cơ hội để thúc đẩy đầu tư và cung cấp dịch vụ CNTT theo hình thức đối tác công – tư nhằm thu hút, tận dụng được các nguồn lực của xã hội trong nước cùng tham gia xây dựng, phát triển, vận hành, duy trì các hệ thống CNTT trong các cơ quan nhà nước.

Thách thức khi triển khai dự án CNTT theo hình thức PPP


Bên cạnh các cơ hội có được không thể không tính đến những khó khăn, thách thức, những yếu tố đã, đang và sẽ cản trở tiến trình triển khai dự án CNTT theo mô hình PPP.  Nói  chung về nguyên tắc  triển khai, dưới góc độ chính trị, PPP dường như khó được chấp nhận vì nó phần nào làm mất quyền quản lý và kiểm soát của nhà nước. Về năng lực, một câu hỏi đặt ra là với điều kiện của Việt Nam hiện nay, liệu khu vực tư nhân có đủ năng lực chuyên môn và tài chính đảm bảo thực hiện PPP hay không. Ngay từ khẩu mời thầu, có được một đội ngũ chuyên gia giỏi biên soạn ra bộ hồ sơ mời thầu chuyên nghiệp, hấp dẫn nhà đầu tư cũng là một thách thức. Thêm vào đó, một cản trở lớn là hiện nay ta chưa có một khung pháp lý đủ rộng để mô hình có thể thực sự khuyến khích được khu vực tư nhân yên tâm tham gia. Về thủ tục hành chính, cho dù khai thông được khâu cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án thí điểm thì cũng chỉ mới giải quyết được một trong rất nhiều khâu trong chuỗi các thủ tục đầu tư đầy chông gai. 

Quy chế thí điểm đã mở đường cho các đề xuất tự nguyện, cho phép sáng tạo và cởi mở hơn với khu vực tư nhân. Tuy nhiên, lo lắng của nhà đầu tư về một quy trình cạnh tranh không “thực sự” minh bạch vẫn còn tồn tại, khi mà khả năng thắng thầu thấp thì họ không bao giờ bỏ tiền đầu tư. Cuối cùng là chưa có hướng dẫn cụ thể việc bố trí và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước cho công tác chuẩn bị dự án PPP.


Khác với các dự án xây dựng công trình, dự án CNTT có rất nhiều đặc thù. Phần cứng thay đổi nhanh chóng,  giá thiết bị giảm mạnh theo thời gian. Phần mềm gồm nhiều loại có bản quyền và PMMNM được mua sắm theo đơn đặt hàng hoặc đóng gói, có thể nâng cấp phát triển và chỉnh sửa. Sản phẩm của dự án là các phần mềm (tài sản vô hình) không hiện hữu như các công trình xây dựng (tài sản hữu hình) nên không thể áp dụng các quy định chung cho cả 2 loại tài sản này. Hơn nữa, khi triển khai dự án CNTT có tính rủi ro cao, khả năng thành công ngay lần đầu thấp,  khối lượng hiệu chỉnh qua mỗi chu kỳ phát triển lớn. Chi phí triển khai cũng chứa đựng nhiều đặc thù bao gồm nhân công, đào tạo chuyển giao công nghệ, tạo lập, duy trì cơ sở dữ liệu, nhập số liệu. Lấy ví dụ riêng ở khía cạnh công nghệ, vòng đời sản phẩm CNTT ngắn, các dòng sản phẩm liên tục đổi mới và cập nhật, do đó quy trình thủ tục đầu tư theo PPP kéo dài như hiện nay có thể dẫn đến việc trang thiết bị khi triển khai có thể bị lạc hậu so với khi lập báo cáo khả thi.

Với các dự án CNTT, phần lớn doanh nghiệp mạnh đủ năng lực tham gia các dự án PPP là doanh nghiệp nhà nước, hoặc có vốn của nhà nước. Tuy nhiên, theo quy định hiện tại của Quyết định 71/2010/QĐ-TTg, những doanh nghiệp loại này sẽ bị hạn chế tham dự, điều này gây khó khăn triển khai mô hình PPP cho các dự án CNTT. Do đó, cần có quy định và hướng dẫn chi tiết để các doanh nghiệp nhà nước có thể tham gia các dự án CNTT theo mô hình PPP. Việc  này không những thúc đẩy thị trường nhà đầu tư trong nước mà còn mang lại cho các nhà thầu quốc tế các đối tác tiềm năng.

Việc giới hạn phần tham gia của nhà nước trong các dự án PPP theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg cũng là một yếu tố hạn chế sự hưởng ứng của phía tư nhân nói chung. Đặc biệt đối với các dự án CNTT, tổng vốn đầu tư nhỏ hơn nhiều lần so với các dự án giao thông và tư nhân hoàn toàn có thể đầu tư nhiều hơn 70%, thì giới hạn này cần phải rất linh hoạt để hấp dẫn khu vực tư nhân tham gia. 

Về xu thế thuê ngoài dịch vụ CNTT như trình bày ở trên, hiện nhà nước chưa có định mức chi cho tư nhân khi cung cấp dịch vụ này, chưa có quy định xác định năng lực của các đơn vị cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, trên hết vẫn là vấn đề đảm bảo tuyệt đối ATTT dữ liệu của cơ quan nhà nước đang là rào cản lớn khi triển khai thuê ngoài dịch vụ CNTT cho cơ quan nhà nước. Yêu cầu đặt ra là phải có khung pháp lý đầy đủ về an toàn an ninh thông tin, tuy nhiên tất cả vẫn còn đang trong quá trình dự thảo.

Qua phân tích trên, có thể thấy trọng tâm để thu hút khu vực tư nhân đầu tư vào lĩnh vực CNTT theo mô hình PPP nằm ở sự quyết tâm cao của các cấp lãnh đạo nhằm hoàn thiện khung pháp lý đủ rộng, cơ chế tài chính cũng như chuẩn bị đủ nguồn lực cho các dự án có thể triển khai thành công.

(Theo  Telecom&IT 12/2012)
Girls Generation - Korean