Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Nvidia có thể giới thiệu chip Tegra 4 vào 2013. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn Nvidia có thể giới thiệu chip Tegra 4 vào 2013. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Những thông tin cần biết về SoC bốn nhân dành cho thiết bị di động


snapdragon

Tinhte-Năm 2011, chúng ta được thấy rất nhiều smartphone, tablet sử dụng vi xử lí hai nhân ra mắt. Chúng nhận được sự chú ý lớn từ thị trường nói chung cũng như những người yêu thích công nghệ nói riêng. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm sau, vi xử lí bốn nhân đã xuất hiện và lấn át hoàn toàn chip hai nhân trên thị trường sản phẩm cao cấp. Vậy những con chip đó thực chất là gì và tầm quan trọng của nó như thế nào đối với thiết bị di động? Trong bài này mình sẽ chia sẻ cho các bạn một ít thông tin về vi xử lí bốn nhân loại dùng trên thiết bị di động và xu hướng phát triển của nó trong năm nay.

Tìm hiểu cơ bản về SoC

1. SoC là gì?

Trước khi đi vào vi xử lí trên di động, mời các bạn làm quen với một khái niệm là SoC. SoC là chữ viết tắt cho System on a chip, hay System on Chip. Theo nghĩa đen, nó là "cả hệ thống trên một con chip". SoC là một mạch tích hợp (mà người ta thường gọi là IC), trong đó tất cả những thành phần quan trọng của một chiếc máy tính hay một thiết bị điện tử đều được đặt trên một con chip duy nhất. Hầu hết những con chip di động mà bạn nghe nói tới như Qualcomm SnapdragonNVIDIA TegraSamsung Exynos, Texas Instrument, Huawei K3V2,… đều là SoC, và tất nhiên, nó cũng chính là thứ được dùng trong smartphone, tablet của chúng ta. Thậm chí có một số máy tính xách tay cũng dùng SoC nữa.

Qualcomm-soc-and-dime
Một con SoC của Qualcomm, nó chỉ nhỏ cỡ đồng xu mà thôi

Một SoC cơ bản thường có những thành phần sau:
  • Một vi điều khiển, vi xử lí, hay nhân xử lí tín hiệu. Vài SoC thì có thể có nhiều hơn một nhân xử lí, khi đó người ta gọi nó là MPSoC, tức Multiprocessor System on Chip. Ở thế giới di động ngày nay, loại được sử dụng phổ biến là vi xử lí.
  • Các khối bộ nhớ, có thể là RAM, ROM, EEPROM hay bộ nhớ flash
  • Nguồn canh thời gian, chẳng hạn như mạch dao động
  • Một số giao diện như USB, FireWire, Ethernet
  • Bộ chuyển đổi tín hiệu số sang tín hiệu tương tự và ngược lại
  • Mạch quản lí năng lượng, mạch kiểm soát điện áp.
  • Những SoC hiện đại còn có bộ xử lí đồ họa, chip cầu bắc, chip cầu nam, bộ kiểm soát bộ nhớ,...
*Ghi chú thêm: vi xử lí (microprocessor) là IC chỉ có CPU, còn vi điều khiển (microcontroller) là có CPU, RAM và nhiều linh kiện khác được tích hợp lên một đế duy nhất.


Những thành phần kể trên sẽ được kết nối với nhau thông qua một "bus" chung (ví dụ như bus AMBA do ARM phát triển) hoặc bus do một hãng nào đó tự làm. Một số SoC có khả năng kết nối trực tiếp các giao diện với bộ nhớ mà không cần thông qua nhân xử lí nên tăng khả năng nhận dữ liệu.

SoC có một số lợi ích đó là giảm giá thành sản xuất, tăng hiệu năng của thiết bị sử dụng SoC, giảm lượng điện năng tiêu thụ. Ngoài ra, việc áp dụng SoC còn giúp giảm không gian cần thiết để tích hợp các linh kiện điện tử, do đó chúng ta có được những thiết bị nhỏ gọn hơn, hoặc một thiết bị với pin lớn hơn.

Qualcomm_S4-5_processor_689 copy
Cấu tạo cơ bản của SoC Qualcomm Snapdragon S4. Khối modem bao gồm những thứ về kết nối không dây, ví dụ bộ thu nhận GPS, chip xử lí tín hiệu số, bộ thu phát sóng di động 3G/4G LTE. Khối nhân xử lí thì có hai nhân CPU Krait, bộ nhớ đệm L1/L2. Khồi đa phương tiện thì có GPU, chip tăng tốc video, âm thanh. Ngoài ra chúng ta còn có những hệ thống cốt lõi, RAM (hay bộ nhớ), bộ phận quản lí năng lượng cho thiết bị

2. Vi xử lí bên trong SoC

Như vậy chúng ta đã biết được SoC là một cái lớn, bên trong nó sẽ có nhiều thành phần nhỏ cần thiết để hệ thống hoạt động, và một trong những thành phần quan trọng nhất đó chính là vi xử lí (microprocessor). Vi xử lí, đôi khi còn được gọi với cái tên bộ vi xử lí, là một linh kiện điện tử được chế tạo từ các transitor siêu nhỏ bên trên một vi mạch tích hợp (cũng là IC). Nó có các tính năng như lập trình được, chấp nhận và xử lí dữ liệu, thực thi các lệnh chỉ dẫn mà hệ thống đưa ra, truy cập vào bộ nhớ để lấy hoặc lưu dữ liệu, tính toán,.… Nói cách khác, nó giống như chức năng của bộ xử lí trung tâm (CPU) dùng trên máy tính. Một vi xử lí có thể có nhiều nhân xử lí. Như hình trên thì bạn thấy SoC Snapdragon này có 2 nhân CPU Krait. Snapdragon S4 Pro thì có 4 nhân Krait.

3. Kiến trúc ARM với nhân xử lí

ARM là một công ty có trụ sở tại Anh. Hãng này chuyên nghiên cứu kiến trúc lõi cũng như thiết kế nên các vi xử lí rồi sau đó cấp quyền sử dụng cho các hãng sản xuất khác. Kiến trúc tập lệnh (instruction set architecture) của ARM đang được sử dụng phổ biến hiện tại là ARMv7. Nó có mặt trên hầu hết các SoC dùng trong smartphone, tablet ngày nay. ARM cũng có phát triểnARMv8 với đặc trưng là hỗ trợ điện toán 64-bit, tuy nhiên nó vẫn chưa được nhiều công ty sử dụng vào các sản phẩm thực tế. ARM có hai hình thức cung cấp bản quyền xử lí kiến trúc chứ bản thân họ không tự sản xuất ra các con chip.

Ở hình thức thứ nhất, các hãng như NVIDIA, Samsung, Texas Instrument,… sẽ mua các nhân xử lí do ARM thiết kế sẵn, ví dụ phổ biến là Cortex-A7Cortex-A8Cortex-A9Cortex-A15. Các vi xử lí này sau đó sẽ được kết hợp với nhiều thành phần khác rồi đặt vào bên trong SoC. Hình thức này được sử dụng phổ biến nhất vì nó đơn giản, tiết kiệm chi phí cho các hãng sản xuất phần cứng, trong khi vẫn đảm bảo mang lại hiệu suất như mong muốn.

Một số hãng khác thì không dùng thứ do ARM làm, họ chỉ lấy kiến trúc của ARM về rồi tự thiết kế nên vi xử lí của riêng mình, sau đó mới tích hợp vào SoC. Thông thường, việc các công ty tự thiết kế vi xử lí sẽ mang lại hiệu năng cao hơn các sản phẩm cùng cấp do nó được tối ưu hóa riêng cho SoC, rộng hơn nữa là tối ưu hóa cho cả thiết bị, mà công ty đó muốn sản xuất. Đổi lại, các công ty sẽ phải chi ra rất nhiều tiền bạc, sử dụng nhiều nhân lực nếu muốn tự mình thiết kế vi xử. Qualcomm với nhân Krait, Apple với nhân tùy biến trong A6 là hai cái tên được biết đến rộng rãi trong việc sử dụng hình thức cấp bản quyền thứ hai của ARM. Ngoài ra chúng ta còn có Marvell với nhân XScale, NVIDIA thì có dự án Denver.

SoC bốn nhân dành cho thiết bị di động

Đến đây thì chắc các bạn cũng hiểu SoC bốn nhân là gì rồi phải không nào? Nó là một SoC với bốn nhân xử lí, hay ở Việt Nam người ta gọi là SoC lõi tứ. Thực chất phải nói chính xác là "SoC có vi xử lí bốn nhân (lõi tứ)", hay "SoC có CPU bốn nhân (lõi tứ)", nhưng như vậy thì dài quá nên người ta chuyển sang nói "SoC" + số lõi. Một số người thì chỉ gọi là SoC là vi xử lí lõi tứ, điều này không hoàn toàn chính xác vì chỉ đề cập đến mỗi tính năng xử lí của SoC, nhưng thôi cũng tạm chấp nhận. Đó cũng sẽ là cụm từ mà bạn thường được nghe khi đọc các bài giới thiệu hoặc khi đi mua smartphone, tablet.

Sự thay đổi mang tính cách mạng

SoC lõi tứ dùng cho thiết bị di động bắt đầu có mặt trên thị trường từ những tháng đầu năm 2012, mặc dù nó đã được giới thiệu trong những tháng cuối năm 2011. Qualcomm và NVIDIA là hai cái tên lớn rất nhanh chóng trong việc công bố sản phẩm SoC bốn nhân của mình. Nó đánh dấu một bước tiến nhanh và mang tính cách mạng của công nghệ bán dẫn kích thước nhỏ vì chỉ trong vòng một năm, các công ty đã tìm được cách tối ưu hóa và đặt thêm nhân vào SoC. Trong khi chỉ mới năm 2011, SoC hai nhân mới là cái tên được chú ý trên smartphone, tablet. Trước khi SoC được công bố, người ta khó có thể ngờ rằng một thiết bị nhỏ xíu như điện thoại, máy tính bảng lại có ngày có được số nhân xử lí tương đương với một chiếc máy tính hiện đại.

Một số cột mốc đáng chú ý của SoC bốn nhân
Những điều làm nên sức mạnh cho SoC bốn nhân

Với SoC bốn nhân, sức mạnh của nó bao gồm rất nhiều thành phần. Nếu xét về hiệu năng xử lí, nhân CPU và GPU sẽ đóng vai trò quan trọng, trong đó CPU đảm đương những công việc thiên về tính toán, còn GPU thì thiên về đồ họa (mặc dù bây giờ GPU cũng được tăng cường khả năng điện toán của mình). Nhân CPU càng mạnh thì SoC có thể xử lí được nhiều dữ liệu, chỉ dẫn hơn, ví dụ nhân Cortex-A9 sẽ tốt hơn Cortex-A8, Cortex-A15 thì vượt trội so với Cortex-A9... Còn GPU thì Adreno 320 sẽ hơn Adreno 310, tương tự như vậy cho các model khác. Để một hệ thống trở nên mạnh mẽ hơn, cả nhân CPU và GPU phải cùng phối hợp với nhau để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng. Như đã nói ở trên, thường (chỉ là thông thường thôi nhé) thì những nhân tùy biến sẽ hoạt động mạnh mẽ hơn là nhân có sẵn. Qualcomm và Apple là hai cái tên được biết đến nhiều trong lĩnh vực tùy biến nhân CPU.

Nếu nói về khả năng tiết kiệm điện của SoC, chúng ta có một số yếu tố như quy trình sản xuất, công nghệ quản lí điện năng, mức độ tiêu thụ điện của nhân CPU và GPU và rất nhiều thứ khác. Một quy trình sản xuất càng nhỏ sẽ giúp tiết kiệm điện hơn, ví dụ SoC Snapdragon S4 Pro sản xuất trên quy trình 28nm thì sẽ tiết kiệm điện hơn so với Tegra 3 vốn làm trên dây chuyền 40nm. Còn công nghệ quản lí điện năng và năng lượng mà CPU, GPU tiêu thụ thì chúng ta khó biết chính xác vì những thông này khá nặng về mặt kĩ thuật. Chúng ta chỉ biết được thông qua lời giới thiệu của các bên có liên quan, ví dụ ARM nói Cortex-A9 tiết kiệm điện hơn A8, còn Qualcomm thì nói nhân Krait tiết kiệm điện hơn nhân Scorpion...
Các dòng chip bốn nhân phổ biến

Qualcomm Snapdragon S4 Pro


snaprdragon_s4_pro

Thực chất, dòng Snapdragon S4 của Qualcomm chia nhỏ thành Play, Plus, Pro và Prime. Ở đây chúng ta đề cập đến SoC 4 nhân di động nên mình chỉ nói đến các chip Pro mà thôi. Con chip này mang mã hiệu APQ8064, được sản xuất trên tiến trình 28nm, một trong những tiến trình có thể xem là nhỏ và tiên tiến trong thế giới chip di động. APQ8064 sử dụng bốn nhân Krait, mỗi nhân có xung nhịp tối đa là 1,7GHz. GPU Adreno 320 bên trong SoC này mang lại hiệu năng đồ họa ấn tượng, trong một số thử nghiệm thì nó vượt trội hơn cả NVIDIA Tegra 3. Nói riêng về nhân Krait, nó là nhân xử lí được Qualcomm xây dựng dựa trên kiến trúc ARM v7. Krait có nhiều điểm tương đồng với Cortex-A15, tuy nhiên cấu trúc của nó là do Qualcomm thiết kế riêng chứ không phải bê y nguyên chip A15 vào SoC Snapdragon.

Ở thời điểm Snapdragon S4 Pro ra mắt (và trong cả năm 2012), Qualcomm là nhà sản xuất duy nhất tìm được cách tích hợp các thành phần thu phát sóng không dây như GPS/GLONASS, 3G/4G LTE lên thẳng trên SoC. So với các máy chạy SoC NVIDIA Tegra 3/4 hay Samsung Exynos - vốn dùng các chip và module không dây nằm riêng biệt, giải pháp của Qualcomm giúp tối ưu thời lượng dùng pin tốt hơn. Tốc độ thu phát sóng, nhất là sóng di động 3G, cũng được tăng cường, tốc độ truy cập nhanh hơn.

Một số máy dùng SoC Qualcomm Snapdragon hiện nay có thể kể đến như LG Nexus 4LG Optimus GLG Optimus LTE IIHTC ButterflyHTC Desire XHTC Desire SVHTC One SV,HTC One S, Sony Xperia T/TX, Xperia V, Xperia S/P/U, Motorola Droid RAZR HD/MAXX HD… Chuyện tiết kiệm pin bên trên cũng đúng cho cả các máy chạy Windows Phone 7 và 8, vốn đều đang sử dụng SoC Snapdragon S4 của Qualcomm, chẳng hạn như Nokia Lumia 920, Nokia Lumia 820, HTC Windows Phone 8X, HTC Windows Phone 8S, Samsung ATIV S...

sony-xperia-z-india

Qualcomm Snapdragon 800 và 600

Đây là hai dòng chip cao cấp nhất của Qualcomm tính đến thời điểm hiện tại, chúng được ra mắt tại triển lãm CES 2013. Nhà sản xuất cho biết mẫu Snapdragon 800 có thể mang lại hiệu năng cao hơn 75% so với S4 Pro nhờ việc sử dụng dây chuyền sản xuất 28nm High Performance for mobile (HPm), trong khi S4 Pro chỉ là dây chuyền 28nm thông thường. Lượng điện tiêu thụ cũng nhờ đó mà giảm xuống. Qualcomm cho biết thêm rằng SoC 800 sử dụng bốn nhân CPU Krait 400 (xung nhịp tối đa 2,3GHz mỗi lõi), GPU Adreno 330, DSP Hexagon v5 và bộ thu phát sóng 4G LTE Cat 4 (150 Mbps) hứa hẹn tăng cường hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống.

Về phần GPU Adreno 330, Qualcomm nói nó có thể mang lại khả năng tính toán cao hơn gấp 2 lần so với thế hệ Adreno 320. Một điểm thú vị khác nữa của Snapdragon 800 đó là nó được tích hợp kết nối Wi-Fi 802.11ac, thế hệ Wi-Fi mới nhất cho phép tốc độ và vùng phủ sóng tốt hơn nhiều so với chuẩn 802.11n đang được dùng phổ biến hiện nay.

Trong khi đó, Qualcomm Snapdragon 600 thì có cấu hình thấp hơn một chút, tuy nhiên nó vẫn mang lại hiệu năng cao hơn 40% so với Snapdragon S4 Pro trong khi tiêu thụ ít điện hơn. SoC 600 sử dụng bốn nhân CPU Krait 300 với tốc độ tối đa 1,9GHz, GPU Adreno 320 và hỗ trợ bộ nhớ LPDDR3. Kết nối 4G LTE 150Mbps, Wifi 802.11ac, Miracast đều có mặt đầy đủ trên SoC 600.

Snapdragon 800 có lẽ phải đến giữa hoặc cuối năm nay mới chính thức có mặt trên thị trường, còn Snapdragon 600 thì đã xuất hiện trên LG Optimus G Pro bản quốc tế, HTC One.

HTC One_Silver_3V_575px

                                                                             

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Sự kiện công nghệ nổi bật tháng 1/2013

Điểm nhấn của làng công nghệ tháng qua là Triển lãm CES 2013 diễn ra tại Mỹ. Sự kiện Nokia chính thức bỏ Symbian cũng gây sự chú ý, bên cạnh việc RIM ra mắt BlackBerry 10, đổi tên công ty thành BlackBerry...

PC lùi bước trước di động

CEO Qualcomm Paul Jacobs nói về thế giới di động trong bài phát biểu quan trọng tại CES 2013. Ảnh: AFP.

CES là Triển lãm Hàng điện tử tiêu dùng lớn nhất thế giới, khởi đầu cho chuỗi sự kiện công nghệ quan trọng của năm, nên thường được giới quan sát xem như "phong vũ biểu" để dự đoán xu hướng công nghệ. Năm nay, CES 2013 mở màn bằng bài phát biểu của CEO Qualcomm Paul Jacobs, một công việc vốn do các thủ lĩnh của Microsoft đảm trách kể từ năm 1995.

Nhân vật chính của sân khấu năm nay, Paul Jacobs, tập trung nói về xu hướng kết nối qua di động mọi lúc mọi nơi. Theo CEO Qualcomm, di động đã trở thành nền tảng công nghệ lớn nhất của nhân loại, là môi trường kết nối cùng với mạng Internet gắn kết mọi người, mọi thứ trên toàn thế giới dưới mọi hình thức tương tác, giải trí, cộng tác, chia sẻ thông tin...

Microsoft đã tuyên bố không tham dự CES 2013, nhưng Steve Ballmer bất ngờ xuất hiện trên sân khấu để trao đổi với Paul Jacobs và cử tọa về di động. Ông giới thiệu Windows 8 chạy với chip di động của Qualcomm trong các máy tính bảng của Samsung và Dell, những chiếc điện thoại Windows Phone 8 như Nokia Lumia 920 và HTC Windows Phone 8X.

Thời thế đã đổi thay, PC không còn được ưu ái, ngay cả với người khổng lồ phần mềm. Theo số liệu thống kê của IDC, doanh số PC toàn cầu trong quý IV/2012 đã giảm 6,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 89,9 triệu máy, cho dù Windows 8 đã được phát hành.

Ultrabook, niềm kỳ vọng của ngành công nghiệp PC, xuất hiện tại CES 2013 nhiều mẫu mới với thiết kế mỏng nhẹ hơn vẫn không mấy được quan tâm vì chưa có đột phá về giá, cân nặng, thời lượng pin, những yếu tố quan trọng khi người dùng cân nhắc chọn mua một thiết bị sẵn sàng làm việc cả ngày, kết nối liên tục. Ví dụ, mẫu ultrabook lai máy tính bảng Lenovo ThinkPad Helix 11,6 inch thuộc diện mỏng và nhẹ nhất hiện nay khi tách ra cân nặng 835g, nặng hơn hẳn so với một chiếc máy tính bảng thuần túy, còn nếu tính cả đế kết nối (dock) thì lên đến 1,81 kg. Trong chế độ sử dụng như máy tính bảng, ThinkPad Helix chỉ chạy được 5 giờ, một thời lượng khiêm tốn cho môi trường di động.

Nền tảng truyền thống Wintel xem ra khó theo kịp xu hướng di động. Hiếm hoi thông tin về doanh số bán PC Windows 8 chứng tỏ hệ điều hành mới hỗ trợ chạm, vuốt của Microsoft chưa hấp dẫn thị trường. Intel thì hứa hẹn bộ vi xử lý Core i thế hệ thứ 4, tên mã Haswell, không chỉ tăng hiệu suất mà còn giúp kéo dài thời lượng pin sử dụng của máy. Tuy vậy, Atom là bước đi quan trọng của Intel dành cho các thiết bị kết nối Internet di động, nhưng việc netbook sớm “lụi tàn” cho thấy nhận định kiến trúc x86 khó có bước đột phá về tiêu thụ điện năng thấp là có cơ sở.

Smartphone đua màn hình “khủng” Full HD, chip 4 nhân

CES 2013 báo hiệu bắt đầu cuộc đua smartphone màn hình “khủng” trên 5 inch hỗ trợ Full HD 1080p với loạt sản phẩm mới trình làng: Lenovo K900, Sony Xperia Z/ZL, Huawei Ascend D2, ZTE Grand S... LG cũng đã ra mắt Optimus G Pro 5 inch tại Nhật Bản, HTC thì có mẫu Butterfly 5 inch. Ascend Mate của Huawei còn “khủng” hơn với màn hình lên đến 6,1 inch, tuy độ phân giải chỉ ở mức HD 720p. Chưa dừng lại ở đó, vì có tin đồn Samsung sẽ nâng đời Galaxy Note lên 6,3 inch, xóa nhòa làn ranh mỏng manh giữa smartphone và máy tính bảng.


Kích cỡ 6,3 inch như smartphone Ascend Mate khó có thể nói là thích hợp cho việc cầm máy ngang tai để đàm thoại. Ảnh: Cnet.
Màn hình lớn cùng độ phân giải cao hơn dĩ nhiên đem lại trải nghiệm tốt hơn cho người dùng nhìn dưới góc độ là thiết bị điện toán, tuy nhiên, khó có thể xem là hợp lý khi cầm một chiếc smartphone kích cỡ trên 5 inch để thực hiện các cuộc gọi thông thường là chức năng chính của một chiếc điện thoại. Thành công của Samsung Galaxy Note II 5,5 inch với 5 triệu máy bán ra chỉ trong 2 tháng đầu một phần có công của chiếc bút S Pen, và cũng không có nghĩa là tạo ra được phân khúc “màu mỡ” cho các điện thoại trên 5 inch.

Nếu như năm ngoái chip 4 nhân mới chỉ xuất hiện trong vài mẫu “siêu” smartphone, thì nay nhiều hãng sản xuất smartphone Android cao cấp đã xem như đó là mặc định. Quy trình sản xuất 28 nm, hỗ trợ công nghệ 4G LTE và những chuẩn kết nối mới nhất, hiệu năng xử lý mạnh mẽ hơn trong những con chip theo kiến trúc ARM của Qualcomm, Nvidia, Samsung thực sự lý tưởng cho các thiết bị di động đời mới ngày càng được dùng nhiều cho các tác vụ đa truyền thông có âm thanh hình ảnh truyền qua mạng không dây chất lượng cao.

CES năm nay là dịp để Qualcomm giới thiệu chip Snapdragon mới với hai mẫu Snapdragon 800 và 600, trong đó mẫu 800 có xung nhịp lên đến 2,3 GHz, hiệu năng tăng 75% so với chip thế hệ cũ Snapdragon 4 Pro. Nvidia ra mắt Tegra 4 cùng tuyên bố là chip xử lý nhanh nhất hiện nay cho các thiết bị di động. Cũng kèm theo một nhân phụ như đàn anh Tegra 3, nhưng 4 nhân chính của Tegra 4 đều là ARM Cortex A15 mạnh hơn hẳn Cortex A9 tích hợp trong chip Tegra 3. Tegra 4 còn tích hợp đến 72 nhân đồ họa và tuy chưa tích hợp sẵn modem LTE như chip mới của Qualcomm, nhưng mức tiêu thụ điện năng đã được cải thiện tới 45% so với Tegra 3. Trong khi đó, Samsung lại “đốt nóng” cuộc chiến đa nhân cùng màn công bố bộ vi xử lý 8 nhân Exynos 5 Octa.

Những chuyển dịch trong làng công nghệ

Trước tình cảnh ảm đạm của ngành công nghiệp PC, Intel lên kế hoạch bỏ mảng sản xuất bo mạch chủ sau khi ra mắt thế hệ chip mới Haswell, thể hiện quyết tâm dốc lực cho xu hướng di động và những mẫu máy tính tất cả trong một (All-in-One). Lenovo K900 mới chỉ là bước khởi đầu nhưng hy vọng người khổng lồ chip sẽ bứt phá trong địa hạt smartphone và máy tính bảng.

Sau nhiều nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào mảng máy tính cá nhân bất thành, Dell đã bày tỏ ý định chuyển mô hình thành công ty tư nhân. Theo hãng nghiên cứu thị trường Gartner, dù Dell vẫn là nhà sản xuất PC lớn thứ ba, nhưng năm qua công ty chỉ bán được 37,6 triệu máy trên toàn thế giới, giảm tới 12,3% so với năm 2011. Mang trên mình món nợ 9 tỷ USD, Dell thực sự là thương vụ khó nuốt cho bất cứ ai dám chi ra 20 tỷ USD.

Thế cờ di động đang chuyển từ Âu - Mỹ sang Á. Báo cáo thị trường di động quý IV/2012 của IDC cho thấy, ngoài Samsung giữ ngôi đầu bảng, các nhà sản xuất smartphone lớn nhất thế giới, Huawei vươn lên ngoạn mục chiếm vị trí thứ ba, vượt qua những tên tuổi gạo cội Sony, Nokia, Motorola, RIM. Một nhà sản xuất khác của Trung Quốc là ZTE đứng thứ 5, ngay sau Sony với cách biệt chỉ 0,2% thị phần smartphone.

Nokia đã chính thức tuyên bố khai tử Symbian, hệ điều hành từng có công giúp nhà sản xuất Phần Lan thống trị suốt 14 năm qua trước khi bị Samsung truất ngôi. Đoạn tuyệt quá khứ, hướng tới tương lai cùng Windows Phone, Nokia đã có được khoản lợi nhuận 585 triệu USD trong quý IV/2013, sau nhiều quý lỗ liên tục.


BlackBerry 10 trình làng cùng hai mẫu điện thoại Z10 và Q10 chưa tạo được lòng tin của giới đầu tư.

Cuối cùng, BlackBerry 10 cũng xuất hiện và RIM chính thức đổi tên công ty thành BlackBerry để dễ nhận diện hơn. BlackBerry liệu có lấy lại được niềm tin của người tiêu dùng hay không vẫn là câu hỏi lớn, không dễ gì có ngay câu trả lời. Tuy nhiên, giới đầu tư đã tỏ ra thất vọng, cổ phiếu của BlackBerry giảm sâu 7% so với giá mở cửa ngay sau khi sự kiện BlackBerry 10 kết thúc.

Theo Số Hóa

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

6 máy tính bảng hấp dẫn sắp trình làng

Sony Xperia Tablet Z

Sony Xperia Tablet Z

Không giống như mẫu di động Xperia Z, tablet của Sony cùng mang một phong cách thiết kế nhưng mặt sau làm bằng nhựa nên nhẹ hơn. Với trọng lượng chỉ 495 gram, máy nhẹ hơn nhiều so với iPad (662 gram) hay Nexus 10 (603 gram). Xperia Tablet Z có độ mỏng rất ấn tượng, chỉ 6,9 mm, vượt xa các mẫu tablet khác, kể cả iPad Mini với 7,2 mm trước đó. The Verge đánh giá đây là sản phẩm vượt xa về thiết kế so với nhiều tablet chạy Android khác trên thị trường.

Xperia Tablet Z mới đây cũng được giới thiệu tại thị trường Nhật Bản nhưng vẫn chưa có ngày lên kệ chính thức.

Razer Edge

Razer Edge

Nhà sản xuất thiết bị chơi game nổi tiếng mang tới triển lãm CES 2013 mẫu máy tính bảng chơi game được chờ mang tên Razer Edge. Sản phẩm có màn hình 10,1 inch độ phân giải chỉ 1.366 x 768 pixel nhưng được đánh giá thực tế hiển thị khá tốt. Điểm đặc biệt nhất ở sản phẩm này là có hai bộ dock đi kèm. Một giống như các model của Asus, Samsung hay Lenovo là bàn phím rời trong khi chiếc còn lại tối ưu cho người dùng là game thủ.

Sản phẩm có giá bán khởi điểm là 999 USD cho cấu hình bao gồm vi xử lý Intel Core i5 thế hệ 3, bộ nhớ trong 64 GB, card đồ họa của Nvidia, RAM 4 GB (tối đa 8 GB trên mẫu Edge Pro).

ThinkPad Helix


ThinkPad Helix

ThinkPad Helix có thiết kế màn hình 11,6 inch có thể tách rời với cân nặng chỉ 835 gram. Máy chưa có cấu hình chính thức nhưng được khẳng định sẽ sử dụng chip Intel Core i thế hệ 3 mới nhất.

Khá giống về ý tưởng với dòng Transformer của Asus nhưng Helix có thể gắn vào dock bàn phím theo hai chiều trước và sau khác biệt. Phần dock bàn phím của máy cũng khá mỏng và đế kết nối lại dày hơn một chút dễ dàng cho việc kết nối. Ngoài ra, đây cũng là model có màn hình sáng nhất trong lịch sử dòng Thinkpad với tấm nền IPS độ phân giải Full HD 1080p.

Asus Memo Pad 7 inch

Asus Memo Pad 7 inch

Được giới thiệu tại triển lãm CES 2013 vừa qua, chiếc Memo Pad gây ấn tượng với mức giá giới thiệu khá rẻ, chỉ 149 USD. Sản phẩm này không có cấu hình mạnh mẽ như Nexus 7 nhưng có thêm khe cắm thẻ nhớ microSD. Máy sẽ bắt đầu bán ra thị trường vào tháng 4 tới đây.

Máy tính bảng chip Tegra 4 của Vizio


Máy tính bảng chip Tegra 4 của Vizio

Đây cũng là sản phẩm rất đáng chú ý tại CES 2013 vừa qua nhưng đáng tiếc là chưa được công bố tên gọi chính thức cũng như thời điểm bán. Sản phẩm có màn hình 10,1 inch độ phân giải ấn tượng như Nexus 10 là 2.560 x 1.600 pixel cũng như chip xử lý Nvidia Tegra 4 mạnh mẽ.

Samsung Galaxy Note 8.0

Samsung Galaxy Note 8.0

Dù chưa chính thức ra mắt nhưng Galaxy Note 8.0 đã được Samsung xác nhận và sớm có mặt tại triển lãm MWC 2013 vào cuối tháng sau. Đây là sản phẩm của hãng điện tử Hàn Quốc nhằm cạnh tranh với iPad Mini của Apple. Sản phẩm vẫn giữ lại được các tính năng chính của dòng Note như bút cảm ứng và đặc biệt là một phím vật lý và hai phím cảm ứng hai bên.

Theo vnexpress.net

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Nvidia trình làng chip lõi tứ Tegra 4 tại CES 2013

Mẫu chip dành cho điện thoại di động và máy tính bảng thế hệ mới của Nvidia có 4 nhân Cortex-A15 cho hiệu năng và tiết kiệm năng lượng vượt trội hơn đời trước, đi kèm bộ xử lý đồ họa GPU 72 nhân.

Tại triển lãm CES 2013, Nvidia đã tình làng loại chip mới nhất dành cho các thiết bị di động mang tên Tegra 4, tiếp nối Tegra 3 của năm 2012. Hiệu năng vượt trội, tối ưu khả năng sử dụng Internet, hỗ trợ nhiều kết nối mạng, tiết kiệm năng lượng tới 45% thế hệ trước là những ưu điểm của Tegra 4.

vld2198-verge-super-wide-jpg-1357543249_
Tegra 4 được Nivida giới thiệu là bộ xử lý có tốc độ nhanh nhất dành cho điện thoại. Ảnh: Theverge.

Chip Nvidia Tegra 4 vẫn sẽ có cấu trúc 4 nhân như Tegra 3 nhưng bao gồm gồm 4 bộ xử lý Cortex-A15 với nhân tiết kiệm năng lượng thế hệ thứ hai. Bộ xử lý đồ họa GPU GeForce tích hợp trong chip có tới 72 lõi cho hiệu năng tốt hơn Tegra 3. Bên cạnh đó, chip lõi tứ thế hệ mới của Nvidia còn hỗ trợ mạng LTE nhờ vào chipset Icera I500 cùng khả năng xuất video với độ phân giải Ultra HD 4K.

Hiện tại, vẫn chưa rõ thiết bị và nhà sản xuất nào sẽ sử dụng chip Tegra 4 thế hệ mới vừa được Nvidia trình làng tại CES 2013. HTC hay LG là những cái tên hứa hẹn sẽ có smartphone sử dụng Tegra 4 đầu tiên.

Xem thêm trên Gamethu.net:

Nvidia công bố Project Shield tại CES 2013

Tuấn Anh

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Tìm hiểu phần cứng smartphone: Bộ vi xử lý (phần 1)


Với quá nhiều smartphone từ các nhà sản xuất như Samsung, Nokia, HTC, Apple, LG, Motorola…, người tiêu dùng hiện nay thực sự rất khó để hiểu được những phần cứng bên trong các smartphone. Có ít nhất 10 loại bộ vi xử lý khác nhau được dùng trong các smartphone, nhiều loại bộ vi xử lý đồ họa, nhiều loại màn hình và không ít các loại cảm biến, pin và camera.
Để giúp bạn đọc tìm hiểu về phần cứng smartphone, VnReview sẽ chuyển ngữ loạt bài hướng dẫn về những thành phần quan trọng bên trong smartphone của trang công nghệ Neowin.com. Loạt bài này được chia làm nhiều phần, mỗi phần tập trung giới thiệu thông tin cần thiết về một loại phần cứng. Nội dung mỗi phần hơi dài, có chỗ hơi kỹ thuật nhưng hữu ích với việc lựa chọn smartphone.
Phần đầu tiên trong loạt bài hướng dẫn này giới thiệu về bộ vi xử lý. Các phần tiếp theo sẽ đề cập lần lượt về đồ họa, bộ nhớ và lưu trữ, màn hình, kết nối và các cảm biến, pin và cuối cùng là camera.
Hệ thống trên chip (System-on-a-chip)
Đây là thành phần bạn nên biết đầu tiên. Khi nói đến bộ vi xử lý bên trong các smartphone hiện nay thực chất là đề cập đến hệ thống trên chip (system-on-a-chip hoặc viết tắt là SoC). Đây là thành phần kết hợp của nhiều thứ như các bộ vi xử lý (CPU), chip xử lý đồ họa (GPU), RAM và cũng có thể cả ROM, trình điều khiển USB và các công nghệ không dây cùng nhiều thứ khác nữa.
Ý tưởng đằng sau SoC là đưa tất cả những thành phần quan trọng của thiết bị vào một diện tích nhỏ trên thiết bị. Mục tiêu là để giảm kích thước vật lý của chúng trên bo mạch và giúp cho thiết bị chạy nhanh hơn, tiêu hao điện năng hiệu quả hơn. Ngoài ra, nó còn giúp làm giảm chi phí lắp ráp sản phẩm.
ARM
Trước khi đề cập đến các SoC cụ thể, một cái tên không thể không nói đến là ARM. ARM có hai thứ cơ bản là kiến trúc vi xử lý (microprocessor architecture) và bộ vi xử lý (processor core).
ARM Holdings là công ty có trụ sở ở Anh, thành lập vào năm 1983. Đây là công ty đã phát triển kiến trúc xây dựng vi xử lý ARM được dùng trong các bộ vi xử lý ARM của hãng này.
Trụ sở của ARM Holdings ở Cambridge của Anh, nơi phát triển các chip xử lý và kiến trúc xử lý ARM cho smartphone
Các công ty sản xuất SoC như Nvidia, Texas Instruments (TI) và Samsung mua lõi xử lý do ARM sản xuất và phát triển để đưa vào các chipset tích hợp (với GPU, bộ nhớ và nhiều thứ khác) của họ. Qualcomm là câu chuyện hơi khác một chút và chúng tôi sẽ đề cập ở phía dưới.
Đó là lý do tại sao SoC của nhiều công ty khác nhau có thể dùng chung một loại vi xử lý, chẳng hạn như cả OMAP3630 của TI và Exynos 3310 của Samsung đều sử dụng vi xử lý lõi đơn ARM Cortex-A8 tốc độ 1 GHz. Trong khi, hai SoC này lại sử dụng những thành phần đồ họa khác: OMAP3630 sử dụng GPU PowerVR SGX530 còn Samsung Exynos 3310 sử dụng GPU PowerVR SGX540.
Kiến trúc ARM là thứ bạn không cần phải lo lắng đến khi tìm hiểu một smartphone mới bởi hầu hết các bộ vi xử lý ARM mới sử dụng kiến trúc ARMv7. Kiến trúc ARMv6 được sử dụng trên các vi xử lý ARM11 tích hợp bên trong các smartphone dùng SoC cũ như HTC Dream và iPhone 3G.
Hiện nay, có hai loại vi xử lý ARM được dùng phổ biến là: ARM Cortex-A8 và ARM Cortex-A9. Cả hai loại vi xử lý này đều sử dụng kiến trúc ARMv7. Trong đó, ARM Cortex-A8 là vi xử lý lõi đơn, còn ARM Cortex-A9 là bộ vi xử lý nhiều lõi (lên tới bốn lõi). Ngoài việc có nhiều lõi hơn, A9 có tốc độ xử lý nhanh hơn các vi xử lý A8 trên mỗi đơn vị MHz (2.0 DMIPS/MHz và 2.5 DMIPS/MHz  - DMIPS hiểu đơn giản là thước đo tốc độ xử lý).
Bạn sẽ thấy bộ vi xử lý ARM Cortex-A8 trong các SoC như TI OMAP3 và Samsung SP5C (Hummingbird/Exynos 3xxx). Cortex-A9 xuất hiện trong dòng TI OMAP4, Samsung Exynos 4xxx, Apple A5, Tegra 2 và Tegra 3 của Nvidia.
ARM còn sản xuất cả các vi xử lý đồ họa Mali sẽ được chúng tôi đề cập chi tiết trong phần nói về đồ họa của loạt bài hướng dẫn này (phần 2).
Trong tương lai, chúng ta sẽ thấy các SoC sử dụng Cortex-A15 MPCore có tốc độ xử lý nhanh hơn 40% so với Cortex-A9 hiện nay. Dự kiến, bộ vi xử lý mới này của ARM sẽ xuất hiện trong TI OMAP5, Samsung Exynos 5xxx và Tegra "Wayne" ra mắt vào cuối năm 2012 hoặc đầu năm 2013. Trong tương lai gần hơn, chúng ta có thể thấy các vi xử lý ARM sử dụng kiến trúc ARMv8.
Các vi xử lý Qualcomm và SoC Snapdragon
Qualcomm hơi khác so với các nhà sản xuất SoC khác bởi họ không sử dụng hoàn toàn thiết kế vi xử lý của ARM. Hãng này dựa vào ARM Cortex-A8 và đưa ra các cải tiến để phát triển thành các vi xử lý Scorpion và Krait riêng của họ. Điều này rõ ràng đòi hỏi nhiều công nghiên cứu và phát triển hơn so với OMAP của TI hay Exynos của Samsung. Vì vậy, các vi xử lý của Qualcomm có tốc độ xử lý liên quan đến đa phương tiện tốt hơn và tiêu thụ điện hiệu quả hơn so với vi xử lý Cortex-A8 tiêu chuẩn.
Các vi xử lý Scorpion và Krait được đưa vào các SoC Snapdragon của Qualcomm. Snapdragon có nhiều dòng (series) được đánh số từ S1 đến S4 (dòng mới nhất). Số series càng lớn thì tốc độ xử lý càng mạnh và là những SoC mới ra gần đây nhất. Ở thời điểm hiện tại, có một vài sản phẩm sắp ra mắt được dự kiến sẽ sử dụng Snapdragon S4 của Qualcomm như HTC One S, HTC EVO 4G LTE, HTC One XL, Asus Padfone và máy tính bảng Transfomer Pad Infinity 700.
Snapdragon được tích hợp nhiều thứ từ CPU, GPU, GPS, RAM, kết nối mạng đến cả chip quản lý năng lượng
Các SoC Snapdragon được đặt tên bằng cách sử dụng 3 ký tự cùng với dãy 4 con số phía sau. Các ký tự được dùng với Snapdragon gồm QSD (chỉ dùng với dòng S1 cũ), MSM với những thiết bị có kết nối không dây và APQ với thiết bị không có kết nối không dây. Về bốn con số, số đầu tiên (ví dụ 8xxx) thể thiện thứ hạng, trong đó 8 nghĩa là vi xử lý dùng trên thiết bị cao cấp và trung cấp, còn 7 là dùng trên thiết bị thấp cấp. Số thứ hai (ví dụ x2xx) dùng để phân biệt thiết bị GSM hoặc CDMA (số 2 là thiết bị GSM và 6 là CDMA). Hai số cuối cùng thường là đề cập về hiệu năng của vi xử lý: ví dụ MSM8255 là vi xử lý lõi đơn S2 1 GHz, còn MSM8260 là vi xử lý lõi kép S3 1.2 GHz.
Các SoC Snapdragon S1 và S2 là lõi đơn với tốc độ tối đa lên tới 1.5 GHz và bộ vi xử lý bên trong là Scorpion. S1 là loại vi xử lý duy nhất được phép sử dụng trong thế hệ Windows Phone đầu tiên và cũng được dùng trong các điện thoại Android như HTC Desire, HTC Droid Incredible, Nexus One và HTC EVO 4G.
Các dòng Snapdragon S1, S2, S3 và mới nhất là S4
Snapdragon S2 được sử dụng trong nhiều sản phẩm hơn. S2 khác với S1 là có bộ vi xử lý đồ họa mạnh hơn và được sản xuất trên quy trình 45nm (S1 sản xuất trên quy trình 65nm) nên có tốc độ xung nhịp CPU lớn hơn. Bạn sẽ thấy vi xử lý Snapdragon S2 MSM8x55 trong nhiều điện thoại Android như HTC Desire HD, HTC Desire S, HTC Thunderbolt và một số điện thoại dòng Xperia của Sony Ericsson như Xperia Play.
Dòng SoC Snapdragon S2 còn có phiên bản có tốc độ xử lý nhanh hơn là MSM8x55T với tốc độ xử lý từ 1.4 GHz đến 1.5 GHz. Loại SoC này được dùng trong các điện thoại Windows Phone thế hệ hai như các điện thoại Lumia của Nokia, HTC Titan và Samsung Focus S. Nó cũng được sử dụng trong một vài điện thoại Android như HTC Flyer và Samsung Galaxy W.
Snapdragon S3 là bước nhảy từ lõi đơn lên lõi kép và được cải thiện mạnh mẽ về đồ họa. Những SoC này được sản xuất trên quy trình 45nm và các bộ vi xử lý Scorpion được sử dụng vẫn dựa trên Cortex-A8, khác với SoC lõi kép của các hãng khác sử dụng công nghệ Cortex-A9 mới hơn. Bạn sẽ thấy S3 MSM8x60 tốc độ 1.2 - 1.5 GHz trong các sản phẩm như HTC Sensation, HTC EVO 3D, HTC Rezound và một số mẫu Samsung Galaxy S II.
Biểu đồ Snapdragon S4 sử dụng bộ vi xử lý Krait
Ngoài những khác biệt về chip xử lý và đồ họa cùng với quy trình sản xuất nhỏ hơn, mỗi dòng Snapdragon mới còn có những cải tiến về các khả năng khác như độ phân giải camera, độ phân giải màn hình và các tác vụ về đa phương tiện.
- Snapdragon S1: Hỗ trợ màn hình độ phân giải 720p, mở video độ phân giải 720p và quay phim 720p. Hỗ trợ camera lên tới 12 megapixel. Hỗ trợ kết nối tới HSPA.
- Snapdragon S2: Cải thiện hỗ trợ kết nối HSPA+. Phần cứng đồ họa tốt hơn.
- Snapdragon S3: Hỗ trợ màn hình độ phân giải WSXGA (1440 x 900 pixel), phát và quay video độ phân giải 1080p. Hỗ trợ đầy đủ các khả năng 3D và camera lên tới 16 megapixel. Hỗ trợ âm thanh vòm Dolby 5.1 và khả năng chống nhiễu.
Thế hệ tiếp theo của Snapdragon là dòng S4 không sử dụng vi xử lý Scorpion mà chuyển sang dùng bộ vi xử lý Krait mới của Qualcomm. Krait cho phép tăng số lõi trong SoC lên tới bốn lõi ở tốc độ lên tới 2.5 GHz mỗi lõi và được sản xuất trên quy trình 28nm mới. S4 cũng được cải thiện rất lớn về GPU và các khả năng khác như hỗ trợ kết nối LTE, HDMI, màn hình 1080p, camera lên tới 20 megapixel, 4 microphone để ghi âm và chống nhiễu, hỗ trợ âm thanh vòm Dolby 7.1, Wi-Fi hai dải tần và Bluetooth 4.0. Qualcomm còn cho biết CPU trong SoC mới này tiêu hao điện ít hơn do được sản xuất trong quy trình mới 28nm.
Chúng ta sẽ thấy những thiết bị sử dụng SoC Snapdragon S4 trong năm nay, dự kiến trong sản phẩm đầu tiên là chiếc máy tính bảng Lenovo IdeaTab S2 10 inch. IdeaTab S2 sẽ sử dụng Snapdragon S4 hai lõi 1.5 GHz.
OMAP của Texas Instruments
SoC của Qualcomm là sản phẩm được các nhà sản xuất smartphone (đặc biệt là HTC) chuộng nhất nhưng SoC OMAP (Open Media Application Platform) của Texas Instruments (TI) cũng được sử dụng khá rộng rãi. Motorola là fan hâm mộ OMAP và sử dụng nó trong nhiều điện thoại Android của hãng.
Giống như Snapdragon, SoC OMAP của TI cũng có nhiều dòng. Dòng OMAP 1 và 2 khá cũ, không được dùng trong các sản phẩm mới hiện nay nhưng bạn sẽ cần quan tâm đến dòng OMAP 3 và 4. Đây là hai dòng OMPA đang được dùng trong nhiều sản phẩm mới. Giống như các sản phẩm Snapdragon S4, dòng OMAP 5 là thế hệ mới nhất của TI và chưa xuất hiện trong bất kỳ thiết bị mới nào.
Cách đặt tên các dòng OMAP khá dễ hiểu, số SoC cao có nghĩa là hiệu năng mạnh hơn. Số đầu tiên luôn là số dòng (series) và các dòng mới luôn nhanh hơn các sản phẩm sử dụng dòng cũ. Sử dụng logic này, OMAP4430 tốt hơn OMAP36320, còn OMAP36320 tốt hơn OMAP3430.
Biểu đồ SoC OMAP36xx của TI tích hợp rất nhiều thành phần
Dòng OMAP 3 là SoC tích hợp vi xử lý lõi đơn ARM Cortex-A8 tốc độ từ 600 MHz đến 1 GHz và GPU bên trong là PowerVR SGX530. Cả hai dòng OMAP34xx và OMAP35xx đều được sản xuất trên quy trình 65nm, còn OMAP36xx sử dụng quy trình 45nm. Các sản phẩm sử dụng OMAP34xx gồm có Motorola Droid và Palm Pre, trong khi đó sản phẩm dùng OMAP36xx gồm Motorola Defy, Motorola Droid X, Palm Pre 2, Nook Color và Nokia N9.
Dòng OMAP 4 tích hợp vi xử lý ARM Cortex-A9 lõi kép tốc độ từ 1 đến 1.8 GHz và GPU PowerVR SGX54x. Hiện có ba phiên bản trong dòng OMAP 4:
- OMAP4430 được dùng trong LG Optimus 3D và Motorola Droid Rarz, Motorola Droid Bionic. SoC này có tốc độ xử lý 1.0 hoặc 1.2 GHz và sử dụng PowerVR SGX540 tốc độ 304 MHz.
- OMAP4460 được nâng cấp tốc độ xử lý từ 1.2 Ghz lên 1.5 GHz và GPU tăng lên 384 MHz. SoC này được sử dụng trong Samsung Galaxy Nexus.
- OMAP4470 có tốc độ xử lý lên tới 1.8 GHz và GPU cũng tăng lên đáng kể. SoC này hiện chưa được sử dụng trong sản phẩm nào tính đến thời điểm hiện tại.
Một hạn chế chính của dòng SoC OMAP là không tích hợp các kết nối không dây và nhiều thành phần quan trọng khác trong chipset giống như Snapdragon. Điều này làm tăng sự linh hoạt khi cần bổ sung công nghệ không dây bạn cần như LTE nhưng nó làm tăng kích thước của bo mạch bên trong thiết bị.
Biểu đồ OMAP4470 của TI
Tuy nhiên, các SoC OMAP có một số tính năng hấp dẫn riêng. TI đã tích hợp công nghệ tiết kiệm điện SmartReflex vào dòng OMAP giúp thiết bị sử dụng có thể mở phim độ nét full-HD 1080p liên tục trong hơn 10 giờ và nghe nhạc liên tục trong 120 giờ. Tuy nhiên, TI không nói pin nào được dùng để có thời gian ấn tượng như trên. Một lợi thế khác của dòng OMAP 4 là chúng có thêm hai lõi ARM Cortex-M3 được dùng trong tình huống sử dụng đòi hỏi khả năng xử lý thấp để tiết kiệm điện và tăng thời gian pin.
Chiếc Samsung Galaxy Nexus sử dụng OMAP4460 của TI
Dòng OMAP 5 là thế hệ tương lai của OMAP và chứa đứng nhiều tính năng không có trong các SoC OMAP cũ. Bạn sẽ thấy hai lõi ARM Cortex-A15 có tốc độ xử lý lên tới 2 GHz cùng với chip đồ họa PowerVR cải tiến, một chip đồ họa 2D rời, bộ vi xử lý âm thanh và chip xử lý video. SoC OMAP 5 sẽ bắt đầu xuất hiện trong các thiết bị ra mắt cuối năm 2012.
Exynos của Samsung
SoC Exynos chủ yếu chỉ xuất hiện trong các smartphone và máy tính bảng của Samsung, cùng với một ngoại lệ duy nhất là các sản phẩm smartphone của Meizu, nhà sản xuất điện thoại Trung Quốc. Mặc dù Samsung sản xuất SoC riêng nhưng họ không sử dụng nó trong tất cả các sản phẩm của hãng, thường sử dụng cả Snapdragon của Qualcomm bởi Exynos không đáp ứng được những yêu cầu như cần có hỗ trợ LTE và hiệu quả chi phí.
SoC Exynos đầu tiên của Samsung được biết đến với tên gọi Samsung Hummingbird (hoặc Samsung Exynos 3310) và được sử dụng trong điện thoại Samsung Galaxy S. Exynos 3310 được sản xuất trên quy trình 45nm và chứa một vi xử lý ARM Cortex-A8 lõi đơn 1 GHz cùng với vi xử lý đồ họa PowerVR SGX540 rất mạnh ở thời điểm đó. Điều ngạc nhiên là Exynos 3310 hỗ trợ độ phân giải full-HD 1080p, khả năng thường không có trong các SoC dùng vi xử lý lõi đơn từ các hãng khác (thường chỉ hỗ trợ tối đa là 720p).
Exynos 4210 là thế hệ thứ hai của Exynos có sự cải thiện về tốc độ xử lý lên ARM Cortex-A9 lõi kép cùng với GPU ARM Mali-400 MP4. SoC này ban đầu được thiết kế để chạy ở tốc độ 1 GHz nhưng khi được đưa vào Galaxy S II thì tốc độ xử lý đã tăng lên 1.2 GHz và sau đó tăng lên 1.4 GHz trong chiếc Galaxy Note. Bạn sẽ thấy Exynos 4210 xuất hiện trong máy tính bảng Galaxy Tab 7.7.
Biểu đồ Exynos 4210 của Samsung
Exynos 4210 lõi kép không chỉ cải thiện mạnh về tốc độ so với 3310, nó còn tích hợp các tính năng khác như GPS, HDMI và USB Host. Dòng OMAP này không hỗ trợ khả năng hiển thị và ghi hình ảnh 3D.
So với các SoC khác, Exynos 4210 có độ phân giải màn hình tối đa thấp nhất: 1280 x 800 (XXVGA) so với 1440 x 900 (WSXGA) của Snapdragon và 1920 x 1200 (WUXGA) của OMAP.
Bộ vi xử lý Exynos (đánh dấu màu đỏ) bên trong chiếc Samsung Galaxy S 4G
Tuy vậy, tương lai của Exynos khá xán lạn. Samsung đang thử nghiệm Exynos 5250 tích hợp các bộ vi xử lý ARM Cortex-A15 lõi kép 2 GHz cùng với vi xử lý đồ họa Mali cải tiến, hỗ trợ 3D, màn hình độ phân giải 2560 x 1600 (WQXGA) và những khả năng camera cũng được cải thiện.
Tegra của Nvidia
Các loại SoC Tegra hiện được sử dụng trong các smartphone và máy tính bảng là dòng Tegra 2 hoặc Tegra 3 với tên mã là Kal-El. Cả hai dòng SoC này đều tích hợp vi xử lý đa lõi ARM Cortex-A9 tốc độ từ 1 GHz đến 1.4 GHz; cả hai đều sử dụng quy trình 40nm và cả hai sử dụng GPU tiết kiệm điện GeForce làm chip xử lý đồ họa.
Điểm khác nhau cơ bản giữa hai dòng này là Tegra 2 tích hợp CPU lõi kép và Tegra 3 tích hợp CPU bốn lõi. Tegra 3 sử dụng vi xử lý đồ họa mạnh hơn và chứa một số tính năng không có trong Tegra 2 như lõi thứ năm để dùng trong tình huống xử lý không cần khả năng xử lý cao. Cả hai chip này đều có những dấu ấn lịch sử: Motorola Atrix 4G (sử dụng Tegra 2) là smartphone hai lõi đầu tiên trên thế giới và Asus Transformer Prime (sử dụng Tegra 3) là máy tính bảng đầu tiên dùng chip bốn lõi.
Dòng Tegra 2 có bốn phiên bản SoC khác nhau: hai loại được thiết kế cho máy tính bảng và hai loại được thiết kế cho smartphone. Tegra 250 AP20H và Tegra 250 T20 đều chứa vi xử lý ARM lõi kép 1 GHz nhưng tốc độ GPU khác nhau, GPU trong Tegra 250 T20 nhanh hơn được thiết kế để dùng cho máy tính bảng. Hai phiên còn lại Tegra 250 AP25 và Tegra 250 3D T25 có tốc độ vi xử lý 1.2 GHz và GPU nhanh hơn.
Theo bảng cấu hình về Tegra 2 của Nvidia, SoC này có khả năng xử lý video độ phân giải 1080p cũng như có các bộ vi xử lý riêng để xử lý video và âm thanh giống như OMAP của TI và Snapdragon của Qualcomm.
Các thành phần của Tegra 2
Tegra 3 có nhiều cải thiện hơn Tegra 2 và là SoC bốn lõi đầu tiên trên thế giới dành cho thiết bị di động. Nhưng tiếc là Nvidia không sử dụng vi xử lý Cortex-A15 mới nhất thay cho Cortex-A9 giống như các nhà sản xuất chip xử lý khác đang làm với thế hệ SoC mới nhất của họ, nhưng đây không phải là vấn đề đáng kể.
Tốc độ xử lý của các lõi A9 đã được tăng từ 1.2 GHz lên 1.3 GHz ở cấu hình 4 lõi và GPU cũng được tăng đáng kể. Tegra 3 có thể chạy trên màn hình độ phân giải lên tới 2048 x 1530 pixel nhưng chỉ có thể quản lý hai màn hình đồng thời trong khi các chip mới của OMAP và Exynos có thể quản lý tới 3 hoặc 4 màn hình cùng lúc.
Đây là hình ảnh của Tegra 3. Năm lõi vi xử lý (lõi thứ 5 nằm ở trên cùng) được đánh dấu màu vàng
Vnreview-Một tính năng thú vị khác của Tegra 3 là ngoài bốn lõi Cortex-A9 bình thường còn có thêm lõi Cortex-A9 thứ năm để sử dụng trong điều kiện không cần khả năng xử lý mạnh. Lõi thứ năm có tốc độ 500 MHz và được thiết kế để xử lý các tác vụ nền để tiết kiệm pin hơn.
Thế hệ Tegra tương lai được gọi với tên mã là Wayne dự kiến sẽ tích hợp các bộ vi xử lý ARM Cortex-A15 trong cấu hình bốn lõi hoặc tám lõi. GPU GeForce cũng sẽ được tăng lên nhưng Tegra 3 vừa ra mắt chưa lâu nên thế hệ Tegra mới có thể sẽ phải chờ đến năm tới.
SoC của Apple
SoC cuối cùng được đề cập trong bài này là sản phẩm của Apple. Không như các hãng trên, SoC của Apple không bán và chỉ được sử dụng trong các sản phẩm của hãng này như iPhone, iPad, Apple TV và iPod Touch. Vì vậy, tìm thông tin về những thứ bên trong SoC này khó khăn hơn các hãng khác.
Apple hiện chỉ phát triển hai loại SoC, đó là A4 và A5 được dùng cho iPad và iPhone 4. Thực tế, Apple lấy nguồn SoC trực tiếp từ Samsung, hãng có sản phẩm SoC mang tên Exynos đã đề cập ở trên. Nhưng khi iPad ra mắt, chúng được đổi tên là Apple A4 nhưng thực tế thì vẫn là SoC do Samsung sản xuất.
A4 là SoC tích hợp vi xử lý ARM Cortex-A8 lõi đơn tốc độ từ 800 MHz đến 1 Ghz và GPU PowerVR SGX535. Nó được sản xuất trên quy trình 45nm. Không rõ các thứ khác được tích hợp trong SoC này còn có những gì nhưng có thể sẽ có bộ vi xử lý tín hiệu hình ảnh (image signal processor – ISP) riêng.
A5 được cải thiện đáng kể về sức mạnh với việc tích hợp vi xử lý ARM Cortex-A9 lõi kép và GPU PowerVR SGX543MP2 lõi kép cùng với bộ nhớ RAM 512 MB (A4 dùng RAM 256 MB). Hầu hết các thứ khác vẫn tương tự A4 như tốc độ xung nhịp, quy trình 45nm, bộ vi xử lý tín hiệu hình ảnh cũng như công nghệ "earSmart" để khử nhiễu âm thanh.
Apple thích giữ bí mật về các sản phẩm chip của họ đến khi ra mắt điện thoại hoặc máy tính mới do đó chúng ta chỉ có thể suy đoán những cải tiến sẽ được áp dụng. Khả năng cao là SoC A6 sẽ sử dụng quy trình 28nm và tích hợp nhiều lõi với tốc độ vi xử lý cao hơn cùng khả năng tích hợp Cortex-A15 thay cho Cortex-A9.
SoC nào tốt nhất?
Thật khó để nói SoC nào tốt nhất khi bạn chỉ nhìn vào một vài khía cạnh. Hầu hết SoC mới nhất của các hãng đều sử dụng chung bộ vi xử lý ARM Cortex-A9 ở tốc độ xung nhịp tương tự và như vậy chúng có hiệu năng CPU như nhau. Sự khác biệt có thể đến khi có sự chênh lệch trong chip đồ họa tích hợp, thành phần có tác động lớn đến hiệu năng xử lý chung (chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn về xử lý đồ họa ở phần 2 của loạt bài này).
Về khía cạnh kích thước vật lý, Snapdragon có ưu thế rõ ràng bởi nó không chỉ tích hợp các bộ vi xử lý, chip đồ họa và chip xử lý video bên trong mà còn chứa cả chip xử lý không dây (3G, LTE), GPS và RAM. Vì vậy, so với các SoC khác, kích thước bo mạch in của các thiết bị dùng Snapdragon về lý thuyết sẽ nhỏ hơn, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất sử dụng pin dung lượng lớn hơn hoặc làm cho điện thoại trở nên mỏng hơn.
Ngoài ra, có một vài thứ khác có thể có trong SoC của hãng này mà không có trong SoC của hãng kia như khả năng hỗ trợ camera độ phân giải lên tới 16 megapixel và màn hình độ phân giải 1920 x 1200 pixel với khả năng xuất HDMI 1080p.
Girls Generation - Korean